Đặc đ iểm dân sinh kinh tế - xã hội

Một phần của tài liệu kl le thi bao ha 072202b (Trang 30 - 39)

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG BA LAI, TỈNH BẾN TRE-

1.2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG BA LAI

1.2.2. Đặc đ iểm dân sinh kinh tế - xã hội

Dân số tỉnh Bến Tre đến năm 2009 là 1.255.809 người và theo số liệu thống kê thì dân số năm 2010 giảm xuống còn 1.252.019 người.

Diện tích lưu vực sông Ba Lai chiếm khoảng 58% diện tích toàn tỉnh và dân số chiếm gần 2/3 toàn tỉnh, trong đó số dân sống tại TP. Bến Tre, các thị trấn Châu Thành, Bình Đại, Giồng Trôm và các vùng thị tứ khác là hơn một nửa dân số. Năm 2010 dân số khu vực nghiên cứu là 834.680 người. Vì vậy việc nâng cao chất lượng nông sản, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống, phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ, hải sản, mở rộng công nghiệp chế biến và tăng tỷ trọng dịch vụ… làm cho nền kinh tế tỉnh Bến Tre nói chung và trong khu vực nghiên cứu nói riêng phát triển mạnh theo hướng kinh tế thị trường và đây cũng chính là áp lực lớn cho môi trường sinh thái. Đa phần người nghèo thường sống ở các vùng nhạy cảm về môi trường. Trong khu vực nghiên cứu cũng như trong các địa phương khác ở Bến Tre, vấn đề nhà ở còn rất bức xúc đa phần là nhà tạm, vật liệu thô sơ.

Huyện/Xã Dân số

19

Bình Đại 38.527

Giồng Trôm 30.272

Ba Tri 22.665

Xã An Hóa 5.028

Tổng 96.492

Toàn lưu vực sông Ba Lai dân cư phân bố tập trung thành làng ấp, thành phố và phân bố ở các dãi đất cao, nơi giồng cát. Dân trong khu vực chủ yếu là dân tộc Kinh, một ít người Việt gốc Hoa và người Hoa. Phần lớn dân ở đây theo đạo Phật, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, một số khác theo đạo Cao Đài, Hoà Hảo. Mật độ dân số bình quân của vùng dự án là 591 người/ km2, toàn tỉnh là 576 người/km2 như vậy so với toàn tỉnh thì khu vực nghiên cứu có thể coi là nơi đất chật người đông. Nhìn chung dân số tại các vùng phân bố không đồng đều giữa các khu vực hành chính (TP. Bến Tre) và các huyện.

1.2.2.2. Kinh tế

Nền kinh tế trong vùng chủ yếu dựa vào sản xuất lúa, trồng dừa và trong những năm gần đây dựa vào đánh cá và nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là nuôi tôm, cá da trơn).

Hơn 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp. Trong khi đó khả năng và dinh dưỡng của đất ngày càng kém, đồng thời đất ngày càng bị nhiễm mặn và chua. Hầu hết người dân sống nhờ vào canh tác tự cấp qui mô nhỏ. Tuy nhiên gần đây họ phải tìm kiếm các hoạt động tạo thu nhập khác. Tỷ lệ thất nghiệp chính thức là khoảng từ 5  8%.

1.2.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp

Cây trồng: Về cơ cấu cây trồng của tỉnh Bến Tre khá đa dạng, trong đó có các cây trồng chủ yếu là lúa, cây công nghiệp và cây ăn quả. Cơ cấu cây trồng cũng đã có sự chuyển dịch khá lớn. Tỷ trọng cây ăn quả đã tăng đáng kể và trở thành loại cây trồng chủ lực. Trong khi đó với thời gian tương ứng, tỷ trọng cây lúa cũng đã giảm. Cụ thể:

Cây dừa là cây công nghiệp lâu năm, chiếm một diện tích khá lớn là 27.329 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Giồng Trôm (13.007 ha), Bình Đại (5.840 ha), Châu Thành (5.541 ha), Ba Tri (1.413 ha), Tp Bến Tre (1.528 ha) với diện tích bằng 43,36%

diện tích đất trồng lúa. Sản lượng dừa đạt 239.400 tấn, bình quân 8,76 tấn/ha.

Cây lúa chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu lương thực của tỉnh nhưng diện tích lúa của tỉnh Bến Tre thuộc loại thấp nhất so với các tỉnh ĐBSCL. Và diện tích lúa tiếp tục giảm, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu lúa được chuyển

20 đổi heo hướng có nagn8 suất cao, chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Diện tích công tác lúa trong khu vực nghiên cứu năm 2009 là 63.780 ha, sản lượng đạt 304.145 tấn, đạt năng suất 4,77 tấn/ha, bình quân đầu người đạt 399kg/đầu người.

Năm 2010 diện tích gieo trồng lúa là 69.927ha. Sản lượng lúa đạt 323.021 tấn, năng suất lúa đạt 46,19 tạ/ha, bình quân đạt 402kg/đầu người. Tuy diện tích lúa giảm, nhưng nhờ gieo cấy giống lúa ngắn ngày nên năng suất tăng lên, tuy nhiên chi phí đầu vào là khá cao nên nông dân đã gặp rất nhiều khó khăn. Riêng vụ đông xuân 2010, diện tích 21.063 ha, năng suất bình quân 57,54 tạ/ha, sản lượng 121.194 tấn.

Hình 1.6: Trồng dừa tại huyện Bình Đại

Một số huyện chuyển đất lúa sang mục đích khác, như: Mỏ Cày Nam trồng cây ăn trái và dừa; Châu Thành chuyển sang đất thổ cư. Riêng ở 3 huyện biển, diện tích lúa tăng hơn 700 ha, nhờ các công trình thủy lợi ngăn mặn, trữ ngọt đã từng bước hoàn thiện và dần phát huy tác dụng. Cây màu lương thực và thực phẩm tiếp tục phát triển khá trên diện tích chuyên canh lẫn luân canh, do duy trì được phong trào đưa cây màu xuống ruộng.

Đầu năm 2010, tổng diện tích cây màu gieo trồng ước đạt 5.413 ha, tăng 17,5%

so cùng kỳ; chủ yếu là bắp, khoai lang, khoai mì; rau đậu các loại. Cây mía có diện tích 5.865 ha, với sản lượng 406.056 tấn. Diện tích mía tiếp tục giảm, chuyển sang cây trồng khác hiệu quả kinh tế cao hơn. Cây dừa có diện tích 50.324 ha, dự kiến sản lượng thu hoạch trong 6 tháng đầu năm 2010 hơn 190 triệu trái; trong đó trồng mới 502 ha.

Nông dân trong tỉnh đã tiến hành thâm canh vườn dừa kết hợp trồng xen, nuôi xen,

21 triển khai dự án trồng mới 5.000 ha dừa, dự án thâm canh 1.000 ha dừa, dự án 10.000 ha ca cao phục vụ xuất khẩu.

Diện tích cây ăn trái có 32.465 ha, dự kiến sản lượng trong 6 tháng đầu năm là 165.363 tấn, diện tích trồng mới là 690 ha. Nông dân tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, đạt năng suất và chất lượng cao, tập trung thâm canh và phát triển bưởi da xanh, cam soàn, sầu riêng, măng cụt. Đồng thời, nông dân còn nhân rộng các mô hình trồng cây ăn trái theo hướng VietGap và GlobalGap.

Cây mía phát triển ở những vùng nước lợ trên đất mới lên liếp từ ruộng trũng (phát triển chủ yếu là ở Giồng Trôm và Ba Tri), các giống phổ biến là Comus, Co 715, 775, F 156, Nco 310… Nhưng tổng diện tích mía trong khu vực có diễn biến giảm sau khi có công trình thủy lợi đi vào hoạt động.

Năm 2009 diện tích cây cacao trồng xen trong vườn là 3.771 ha sản lượng 16.435 tấn, năng 4,86 tấn/ha. Năm 2010 diện tích cây cacao tăng lên 4.421 ha, sản lượng 19.247 tấn, nhưng năng suất giảm chỉ còn 4,35 tấn/ha. Ngoài ra, khu vực hiện còn đang phát triển mạnh cây ca cao với các giống tốt như: TD1TD2, TD3TD5, TD6TD8, TD10TD14, TC5, TC7TC11,TC12, TC13.

1.2.2.2.2 Chăn nuôi

Chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính trong khu vực, giá trị sản lượng chăn nuôi chỉ mới chiếm khoảng 21 ÷ 25% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp. Vật nuôi được nông dân chú trọng phát triển là heo, trâu bò và các loại gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng,..., định hướng phát triển trong chăn nuôi là tiếp tục phát triển đàn heo theo hướng nạc hóa, cải thiện giống và điều kiện chăn nuôi, tăng năng suất xuất chuồng. Phục hồi dần đàn gia cầm chuyên thịt và chuyên trứng tập trung theo hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp. Đẩy mạnh tốc độ sind hóa đàn bò, tăng năng suất và chất lượng thịt, ổn định và gia tăng tổng đàn. Ngoài ra tiếp tục quan tâm đa dạng hóa vật nuôi, đặc biệt là loại hình chăn nuôi dê, thỏ, cừu đang có nhiều triển vọng.

Hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình, đồng thời chú trọng khuyến khích tăng dần qui mô nuôi. Nâng tỷ trọng giá trị chăn nuôi cân đối dần với trồng trọt trong cơ cấu ngành nông nghiệp.

Bảng 1.8: Số lượng gia súc, gia cầm nuôi trong khu vực

Huyện/Xã Dê/trâu

(con)

(con)

Heo (con)

Gia cầm (con)

Huyện Bình Đại 1.419 2.318 10.043 84.301

22

Huyện Giồng Trôm 737 375 7.769 7.377

Huyện Ba Tri 1.349 7.548 2.723 76.000

Xã An Hóa 0 58 1.750 8.500

Tổng 3.505 10.299 22.285 176.178

Công tác phòng chống và quản lý dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện, đã kịp thời xử lý và ngăn chặn dịch bệnh xảy ra. Đàn gia cầm của tỉnh từng bước được phục hồi, tuy nhiên mức độ còn chậm, vì người dân còn e ngại do tình hình diễn biến dịch bệnh trong khu vực còn phức tạp. Chăn nuôi gia súc như heo, bò có xu hướng phát triển chậm, chưa đạt kế hoạch đề ra, nguyên nhân chủ yếu do giá thức ăn cao, ảnh hưởng dịch bệnh tai xanh trên heo ở các tỉnh trong khu vực, nhu cầu bò giống giảm, chủ yếu phát triển đàn bò thịt, giá bò giảm mạnh dẫn đến hiệu quả sản xuất không còn cao như trước đây.

Hình 1.7: Chăn nuôi gia cầm trong hộ gia đình

Thủy sản cũng được xem là ngành kinh tế chủ đạo của tỉnh, đóng một phần quan trọng trong tổng thu nhập, khu vực nghiên cứu khá mạnh về thủy hải sản tập trung ở hai huyện Bình Đại và Ba Tri.

Hiện nay 2 huyện Bình Đại và Ba Tri đã hình thành các ngư trường nuôi tôm xuất khẩu với diện tích khoảng 1.200 ha theo hình thức bán thâm canh, với năng suất khoảng 1.500 kg/ha. Hầu hết diện tích nuôi trồng thủy hải sản còn mang tính quảng canh là chính.

23 Tình hình dịch bệnh trên tôm năm 2009 và 2010 có giảm so với vụ nuôi của các năm trước do người nuôi tuân thủ các quy trình kỹ thuật, cải tạo ao, quản lý tốt chất lượng con giống, chấp hành tốt lịch thời vụ. Vùng nuôi tôm quãng canh cải tiến, tôm xen rừng khá ổn định. Nuôi thủy sản vùng ngọt phát triển mạnh, nhất là nuôi cá da trơn ở 2 huyện Châu Thành và Chợ Lách; diện tích tăng khá nhanh, có đến 495 ha thả giống nuôi. Nuôi xen tôm càng xanh trong mương vườn phát triển đều khắp ở các huyện, riêng hình thức sản xuất một vụ tôm sú, một vụ tôm càng xanh-lúa phát triển mạnh ở Thạnh Phú và đạt hiệu quả khá cao.

Trong điều kiện thời tiết, khí hậu, dịch bệnh và giá cả hàng nông sản còn diễn biến phức tạp, nhưng hoạt động nông nghiệp vẫn tiếp tục giữ vững nhịp độ phát triển.

Đó là nhờ ngành nông nghiệp đã tập trung lãnh đạo nông dân khai thác tốt tiềm năng và lợi thế của từng vùng sinh thái, nâng cao chất lượng và hiệu quả cây trồng, vật nuôi theo hướng đẩy mạnh đầu tư thâm canh, chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Diện tích nuôi cá tra thâm canh, trồng dừa mới, trồng ca cao xen trong vườn dừa, vườn cây ăn trái tăng nhanh. Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm được khôi phục và phát triển. Sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng.

Hoạt động khai thác thủy sản được tiếp tục phát triển theo chiều sâu, số tàu thuyền khai thác xa bờ, sản lượng khai thác tăng.

Hình 1.8: Nuôi cá da trơn tại huyện Bình Đại.

1.2.2.3. Tình hình xã hi 1.2.2.3.1 Y tế

24 Mạng lưới y tế từ tuyến tỉnh xuống xã đã được đầu tư, cải tạo và nâng cấp. Công tác khám và chữa bệnh ở các bệnh viện ngày càng được nâng cao về chất lượng, cơ sở vật chất và trang thiết bị khám chữa bệnh tiếp tục được đầu tư nâng cấp, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong điều trị cũng được ứng dụng đạt hiệu quả cao. Các chương trình y tế quốc gia đạt kết quả khá tốt. Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố hoàn thiện, tính đến nay toàn tỉnh có 100% xã, phường có y sĩ sản nhi và nữ hộ sinh, xã có y tế ấp đạt 97,5%, 82% ấp có nhân viên y tế, 62 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 208 làng văn hóa sức khỏe.

Tóm lại, vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe của tỉnh Bến Tre nói chung và của khu vực nghiên cứu nói riêng còn gặp nhiều khó khăn cả về con người và cơ sở vật chất đặc biệt đối với những vùng sâu vùng xa.

1.2.2.3.2 Giáo dục

Việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục đạt kết quả khả quan, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 95,63%, phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt 96,87%. Tỉ lệ người mù chữ trong độ tuổi 15 ÷ 35 còn 2,57%.

Tóm lại, trình độ học vấn của cư dân trong khu vực không đồng đều do yếu tố đô thị hoá. Khu vực dân cư có trình độ học vấn cao nhất là Thành phố và thị trấn, khu vực có trình độ học vấn thấp đều thuộc các huyện ven biển như Ba Tri, Bình Đại.

Các xu hướng chung: Hầu hết đời sống văn hóa, vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh đều khá hơn những năm trước đây, họ có thu nhập cao hơn, tiết kiệm nhiều hơn.

1.2.2.3.3 Cơ sở hạ tầng

Điện

Mạng truyền tải điện có tuyến duy nhất từ Mỹ Tho sang khu vực nghiên cứu 110 KV, dài: 18 km, khả năng tải 72 MVA. Các trạm biến áp 110/22/15 KV Tân Thành (1x 25 MVA). Điện đã kéo về 100% số xã phường trong khu vực (104/104 xã), trong đó số hộ dùng điện 99%. Điện sử dụng trong sản xuất nông nghiệp chiếm 15%.

Tóm lại, nhờ có điện đã hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp phát triển, cải thiện điều kiện sống cho dân cư nông thôn, nhất là về sinh hoạt tinh thần. Song, để phát huy hiệu quả cao cần tiếp tục đầu tư điện khí hóa nông thôn, sử dụng điện trong sản xuất nông nghiệp nhiều hơn.

Giao thông:

Trong những năm qua giao thông khu vực được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp rất nhanh, các tuyến đường chính gồm: Quốc lộ 60 và các trục đường tỉnh 881,

25 882, 883, 884, 885, 886, 887, 888 đã trải nhựa, giao thông đi lại khá thuận lợi, đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông là những cầu lớn nối liền tỉnh Bến Tre với các tỉnh khác đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đã mang lại những lợi ích kinh tế rất lớn không những cho nhân dân tỉnh Bến Tre mà còn cho các tỉnh khác ở vùng ĐBSCL. Vừa qua Chính phủ đã phê duyệt dự án cầu Cổ Chiên nối Bến Tre và Trà Vinh và sẽ được khởi công xây dựng trong năm 2011. Khi cầu này được xây dựng xong đường giao thông nối Bến Tre với các tỉnh ĐBSCL gần như là hoàn chỉnh tạo điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế trong khu vực.

Theo thống kê tính đến cuối năm 2009 có 100% số xã có đường ô-tô trải nhựa đến trung tâm xã, ngoài ra một số ấp cũng đã có đường ôtô. Bên cạnh đó, với chủ trương nhà nước và nhân dân cùng làm đã có bước cải thiện mạnh mẽ về giao thông nông thôn góp phần nâng cao khả năng lưu thông và phát triển nông nghiệp. Hệ thống giao thông nông thôn ở KVNC rất tốt, hầu hết các thôn ấp đều có đường bêtông đã được xây dựng theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm.

Cấp nước sinh hoạt:

Theo số liệu của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, trong khu vực có 1.902 giếng khoan và 630 giếng đào, ngoài ra, đã cung cấp cho hộ nông dân:

15.000 lu chứa nước (dung tích 200 lít/lu), 520 bể chứa (dung tích 4,0 m3/bể) và bể chứa nhỏ loại dung tích 1,0m3 là: 180 bể.

Hình 1.9: Hình ảnh các lu chứa nước tại hộ gia đình

26 Nói chung, việc cấp nước sinh hoạt ở đây đã được cải thiện nhiều trong những năm qua tuy nhiên tỷ lệ sử dụng nước sạch vẫn thấp so với các tỉnh ĐBSCL và đang là một thách thức lớn, nhất là các hộ nghèo.

1.2.2.4. Môi trường 1.2.2.4.1 Thực vật

Khu hệ thực vật tự nhiên (rừng mắm, đước, bần) của khu vực chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển và thực vật ven sông rạch. Rừng ngập mặn là nơi cư trú, sinh sản, phát triển, cung cấp thức ăn cho các loại thủy sản ven biển. Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú, sinh sống của các loài chim, thú rừng, là nơi lưu trữ nguồn gien góp phần bảo vệ đa dạng sinh học.

Trên các giồng cát, trước đây là các cây thân gỗ thuộc các họ sao, dầu, họ trôm xen lẫn một số vết tích của rừng ngập mặn còn sót lại ở chân các giồng như các loại tra, tra lầm vồ, cùi, mù u...

1.2.2.4.2 Thủy sinh và động vật trên cạn

Dựa vào kết quả nghiên cứu trước đây về môi trường nước, cơ sở thức ăn tự nhiên,... cho phép chia KVNC ra thành 2 vùng phụ:

Vùng nước lợ - mặn:

Vùng này bao gồm các huyện Bình Đại, Ba Tri, trong đó hầu hết diện tích là đồng bằng ven biển cao và phần bãi bồi ven biển - đồng bằng ven biển ngập triều. Cơ sở thức ăn tự nhiên khá phong phú, có cơ cấu nhóm loài tiêu biểu cho vùng nước lợ.

Cụ thể:

- 133 loài tảo, trong đó giống tảo silic có nguồn gốc biển chiếm 83,3%.

- 24 giống loài động vật nổi (60% giống loài có nguồn gốc mặn lợ).

- 61 loài động vật đáy (giáp xác, nhuyễn thể, giun nhiều tơ,...) nguồn gốc biển chiếm ưu thế.

Bên cạnh đó đàn cá, tôm kinh tế và các loài hải sản khác cũng đã được phát hiện ở vùng nước lợ - mặn, bao gồm: 61 loài cá, trong đó 24 loài thuộc 9 họ cá thích ứng với vùng nước lợ, 18 loài thuộc 8 họ cá biển di cư vào nước lợ, 16 loài thuộc 7 họ cá từ biển di cư vào nước lợ và nước ngọt, 3 loài thuộc 2 họ cá từ nước ngọt di cư đến,...

Vùng nước ngọt:

Đối với hệ thủy sinh vùng nước ngọt, kết quả khảo sát đã phát hiện được 105 loài tảo (tảo silic 55 loài chiếm 52,38%, tảo lam 23 loài chiếm 21,9%, tảo lục 14 loài chiếm 13,33%), 28 loài động vật nổi (trùng bánh xe 9 loài - 31,14%, râu ngành 6 loài - 21,43%, động vật đơn bào 5 loài - 17,86%, chân chèo 4 loài - 14,28%, thâm mềm 2 loài - 7,14%,... 51 loài động vật đáy (giáp xác 24 loài chiếm 41,17%, ốc nước ngọt 14

Một phần của tài liệu kl le thi bao ha 072202b (Trang 30 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)