CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG BA LAI, TỈNH BẾN TRE-
1.3. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2020
1.3.1. Ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản
Phương hướng phát triển chung
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng. Thúc đẩy ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích. Củng cố vùng nuôi và đánh bắt thủy sản phục vụ cho sản xuất công nghiệp chế biến thủy hải sản. Gắn phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản với sản xuất công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm.
Xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung; phát triển các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao; gắn sản xuất với bảo quản, chế biến và tiêu thụ. Nâng cao chất lượng hàng nông sản; từng bước tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Những năm tới để phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng như trên địa bàn huyện Bình Đại thì đất nông nghiệp sẽ giảm để ưu tiên cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng như phát triển các công trình xây dựng và công trình công cộng khác. Do đó, sản xuất nông nghiệp các huyện trong thời gian tới cần tập trung đi vào đầu tư thâm canh, ứng dụng công nghệ sinh học.
Giá trị sản xuất nông nghiệp
Mặc dù diện tích đất sản xuất trồng trọt có bị giảm, nhưng sẽ áp dụng các biện pháp kỹ thuật để thâm canh cây trồng, cũng như phát triển nuôi các loại con có giá trị kinh tế cao nên giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn có xu hướng tăng trong những năm tới. Dự báo tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 là 12%/năm và giai đoạn 2016-2020 là 8%/năm; cả giai đoạn 2011-2020 là 10%/năm. Nguyên nhân là do giai đoạn 2016-2020 chủ yếu đầu tư vào chiều sâu, các bước đột phá đã được ưu tiên tập trung vào giai đoạn 2011-2015 nên tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn 2016-2020 đạt thấp hơn. Trong đó, giá trị
28 sản xuất ngành chăn nuôi tăng cao nhất, với các tỷ lệ tương ứng là 16,6%/năm;
14,3%/năm; 15,4%/năm. Riêng giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng chậm hơn với các tỷ lệ tương ứng là 10,6%/năm; 5,4%/năm; 7,9%/năm.
Trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt sẽ giảm dần từ 78,4% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2010 xuống 73,6% năm 2015 và 65% năm 2020. Ngược lại, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi sẽ có xu hướng tăng trong cơ cấu với các tỷ trọng tương ứng là 21,6%; 26,4%; 35%.
Phương hướng phát triển ngành trồng trọt
Chọn giống cây trồng có chất lượng để tăng năng suất cây trồng vật nuôi, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, phát triển và nhân rộng các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững, trên quan điểm phát triển nông nghiệp gắn với việc bảo quản chế biến, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa nông nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Ngoài ra, chú ý đến việc cải thiện môi trường sinh thái, tạo cảnh quan đẹp kết hợp đáp ứng cho nhu cầu du lịch của huyện và tỉnh.
Tập trung đầu tư cải tạo và kiến thiết lại đồng ruộng. Hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi để đáp ứng đủ cho nhu cầu tưới tiêu.
Thực hiện các giải pháp kỹ thuật trong đó đẩy mạnh việc thực hiện cơ giới hóa trong các khâu sản xuất.
Tiếp tục thử nghiệm để chọn lựa được những giống cây, con có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương.
Phương hướng phát triển ngành chăn nuôi
Phát triển theo hướng tập trung để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa. Bên cạnh đó phải chú trọng đến công tác kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo đảm môi trường nuôi trong sạch. Ngoài những đối tượng con nuôi hiện có, sẽ nghiên cứu để phát triển những đối tượng con nuôi khác có hiệu quả kinh tế cao mà có thể phù hợp với điều kiện nuôi trên địa bàn Bình Đại (nghề nuôi chim yến…).
Phát triển theo hướng tập trung, công nghiệp, để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa. Bên cạnh đó phải chú trọng đến công tác kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo đảm môi trường nuôi trong sạch.
Bảng 1.9: Dự kiến các chỉ tiêu ngành trồng trọt năm 2010 - 2020
Diện tích/sản lượng Năm 2020
29 I. Diện tích (ha)
Lúa 52.520
Hoa Màu 1306
2. Rau đậu các loại 2.270
3. Cây CN hàng năm (mía) 3.300
4. Cây CN lâu năm (dừa) 23.370
5. Cây ăn trái 8.600
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre) Phát triển đàn gia súc, nhất là đàn bò, dê và heo theo hướng tăng nhanh số lượng, năng suất và chất lượng. Khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại với quy mô công nghiệp. Đẩy mạnh công tác lai tạo giống vật nuôi nhằm cung ứng giống tốt cho nhân dân; tập huấn kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh; phát triển chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Bố trí diện tích canh tác phù hợp để trồng cỏ, phát triển chăn nuôi bò, dê. Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đảm bảo hiệu quả, ổn định và bền vững. Ưu tiên phát triển nuôi thủy sản để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu, chú trọng công nghệ bảo quản sản phẩm, hệ thống hậu cần dịch vụ, lưu thông hàng hoá tiện lợi, hiệu quả.
Ngoài mục tiêu tăng trưởng nhanh, ngành chăn nuôi còn đặt trọng tâm vào việc cải thiện quy mô và hiệu quả nuôi, nâng cao chất lượng và độ đồng nhất của sản phẩm xuất chuồng, cung ứng giống, đặc biệt là đại gia súc, chú trọng vệ sinh phòng dịch và cải thiện môi trường nuôi... Trong cơ cấu đàn heo năm 2020, quy mô nuôi nông hộ và trại gia đình giảm dần, thay thế bằng quy mô nuôi dạng trại nuôi công nghiệp-bán công nghiệp và trang trại liên hợp chăn nuôi - thức ăn gia súc - trồng trọt với các trang trại nuôi công nghiệp, đảm bảo vệ sinh phòng dịch.
1.3.1.2. Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản
Trên địa bàn huyện Giồng Trôm
Đối với nuôi trồng thủy sản chuyên, mở rộng diện tích nuôi ao hầm trong khu vực thổ cư và bãi bồi, chú trọng phát triển các loại hình nuôi tập trung quy mô trung bình (0,5-2,0 ha/ao) trong đó một phần sẽ chuyển sang phương thức nuôi bán thâm canh - thâm canh; đồng thời tích cực dịch chuyển các ao nuôi cá da trơn thâm canh trong khu vực sông Ba Lai sang khu vực bải bồi và cồn phía Tây Bắc sông Hàm Luông nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường.
30 Đối với nuôi trồng thủy sản xen canh, phát triển nhằm khai thác tổng hợp tiềm năng kinh tế vườn trên nền dừa.
Bảng 1.10: Dự kiến các chỉ tiêu phát triển ngành thủy sản năm 2010 - 2020
Diện tích/sản lượng 2005 2010 2015 2020
1. Diện tích mặt nước NTTS
(ha) 488 1 176 1 350 1 484
- Đất thủy sản chuyên 49 553 653 663
- Nuôi xen 439 623 697 821
- Nuôi cá 269 949 1 032 1 017
- Nuôi tôm 170 227 318 467
Diện tích nuôi công nghiệp 226 267 271
2. Sản lượng nuôi trồng (Tấn) 1 308 31 978 39 228 41 741
- Cá 1 227 31 630 38 800 41 170
- Tôm 81 348 428 571
(Nguồn: Quy hoạch tổng thề phát triển KT-XH huyện Giồng Trôm đến năm 2020) Về cơ cấu theo loài, cá chiếm ưu thế (khoảng 630 ha). Về cơ cấu theo mức độ thâm canh, đến năm 2010 có gần 230 ha nuôi bán thâm canh - thâm canh và tăng lên đến khoảng 270 ha năm 2020. Đối tượng nuôi chính là cá da trơn và một ít rô phi dòng gift, các loại cá đồng (rô đồng, sặt rằn...), cá đen chiếm tỷ trọng 20-25%, cá da trơn chiếm 75-80%. Cần chú trọng loại hình nuôi bán thâm canh-thâm canh với tiến độ thích hợp theo khả năng chủ động giống xác nhận, xây dựng kết cấu hạ tầng, cải thiện kỹ thuật nuôi, kiểm soát dịch bệnh và môi trường nước nhằm tạo thế bền vững, ổn định của phương thức nuôi trồng này cũng như từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm và các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo yêu cầu thị trường.
Do toàn bộ hoạt động nuôi trồng thủy sản dời qua bên sông Hàm Luông nhằm bảo vệ môi trường nước mặt sông Ba Lai, cho tới thời điểm năm 2020 hoạt động nuôi trồng thủy sản ở 4 xã Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Hòa và Châu Bình không còn có giá trị gia tăng.
Trên địa bàn huyện Ba Tri
31 Trên thủy vực ngọt hóa, mở rộng diện tích nuôi ao hầm trong khu vực dân cư và phát triển các loại hình nuôi tập trung quy mô trung bình tại vùng trũng Phú Lễ và một số diện tích thích ứng tại vùng Tân Mỹ, Tân Xuân, trong đó một phần sẽ chuyển sang phương thức nuôi bán công nghiệp – công nghiệp.
Bảng 1.11: Dự kiến chỉ tiêu ngành thủy sản từ năm 2011 đến năm 2020
Huyện Ba Tri Diện tích (ha)
Tân Mỹ 560,8
Tân Xuân 260,6
Tổng 821,4 (Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Tri)
Trên địa bàn huyện Bình Đại
Tiếp tục phát huy lợi thế về tiềm năng của một huyện ven biển, phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản, đa dạng hình thức nuôi và cơ cấu giống nuôi, nhất là nuôi trên biển. Đồng thời với việc đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, giảm cường lực khai thác ven bờ nhằm gia tăng hiệu quả đánh bắt, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đảm bảo an ninh, trật tự trên biển. Giải quyết việc làm cho lao động các xã ven biển, các ngư dân có thu nhập ổn định, sẽ góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái ven biển bền vững, đây cũng đồng thời là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên liệu cho xuất khẩu.
Song song với việc đầu tư khai thác thế mạnh của ngành thủy sản các huyện Ba Tri, Bình Đại là phát triển nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản, các huyện sẽ chú trọng đến việc phát triển hệ thống dịch vụ nhất là dự án mở rộng cảng cá Bình Đại, ụ trú bão tại Vàm Bình Châu (xã Bình Thắng) để phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng về số lượng tàu thuyền cũng như giao dịch mua bán sản phẩm thủy sản.
Ngoài ra, cũng cần chú trọng đến việc đầu tư dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển, công tác đào tạo đội ngũ lao động nghề cá là hết sức cần thiết; cần chủ động thông tin dự báo kịp thời cho ngư dân, phát triển mô hình gắn kết với các ngành, địa phương để bảo vệ tốt trật tự an ninh trên biển.
Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của huyện Bình Đại và dự báo những nhân tố tác động từ bên ngoài để khai thác tiềm năng thế mạnh của ngành thủy sản trong những năm tới cho phù hợp. Xuất phát từ những yếu tố trên, có hai phương án phát triển ngành thủy sản của Bình Đại như sau:
Phương án I
- Giai đoạn 2011-2015:
32 Đến năm 2015, giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 2.614.000 triệu đồng. Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản đạt 1.568.000 triệu đồng và ngành khai thác thủy sản đạt 1.046.000 triệu đồng (tính theo giá so sánh 1994). Tương ứng, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất ngành thủy sản là 6,6%/năm.
- Giai đoạn 2016-2020:
Đến năm 2020, giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 3.596.000 triệu đồng. Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản đạt 2.337.000 triệu đồng và ngành khai thác thủy sản đạt 1.259.000 triệu đồng (tính theo giá so sánh 1994). Tương ứng, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất ngành thủy sản là 6,5%/năm.
- Giai đoạn 2011-2020:
Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất ngành thủy sản là 6,5%/năm.
Phương án II
- Giai đoạn 2011-2015:
Đến năm 2015, giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 2.852.000 triệu đồng. Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản đạt 1.711.000 triệu đồng và ngành khai thác thủy sản đạt 1.141.000 triệu đồng (tính theo giá so sánh 1994). Tương ứng, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất chung ngành thủy sản là 8,5%/năm.
- Giai đoạn 2016-2020:
Đến năm 2020, giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 4.022.000 triệu đồng. Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản đạt 2.614.000 triệu đồng và ngành khai thác thủy sản đạt 1.408.000 triệu đồng (tính theo giá so sánh 1994). Tương ứng, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất chung ngành thủy sản là 9%/năm.
- Giai đoạn 2011-2020:
Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất ngành thủy sản là 7,8%/năm.
1.3.1.3. Quy hoạch phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp các huyện phải được thể hiện trong mối quan hệ với tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện và tỉnh Bến Tre; đồng thời phù hợp với quy hoạch phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Phương hướng phát triển là đa dạng hóa ngành nghề, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển, tập trung đầu tư cho ngành sản xuất các sản phẩm mà thị trường trong nước và thế giới có nhu cầu. Đổi mới công nghệ, ưu tiên đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp và thủy sản (đóng & sửa chữa tàu thuyền, chế biến thủy hải sản). Đồng thời ổn định và chú ý đầu tư chiều sâu phát
33 triển các ngành công nghiệp chủ lực như chế biến thủy hải sản, may mặc, chế biến dừa, sản xuất & sửa chữa cơ khí để tăng giá trị hàng xuất khẩu, tạo lợi thế cạnh tranh cho những sản phẩm. Tập trung thu hút vốn đầu tư trong tỉnh, ngoài tỉnh và nước ngoài để phát triển mạnh ngành công nghiệp của huyện trong những năm tới. Phát triển công nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường xung quanh khu dân cư. Do vậy cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp sạch, không gây ô nhiễm môi trường.
Ưu tiên thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào cụm công nghiệp Bình Thới, khu công nghiệp Phú Thuận để phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy hải sản đông lạnh phục vụ xuất khẩu. Khuyến khích các cơ sở sản xuất công nghiệp thường xuyên đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị theo hướng hiện đại, đồng thời khai thác tốt nguồn nguyên liệu tại chỗ nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Củng cố và phát triển làng nghề khai thác, chế biến thủy hải sản ở xã Bình Thắng và các dịch vụ hậu cần phục vụ nghề cá; mở rộng khu dịch vụ kỹ thuật cảng cá Bình Đại.
Trong giai đoạn 2011-2015 tập trung phát triển đi vào chiều sâu các ngành sau:
chế biến thủy hải sản xuất khẩu; chế biến dừa; may mặc xuất khẩu; sản xuất & sửa chữa cơ khí bằng cách đổi mới công nghệ, đầu tư vốn nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao, cạnh tranh được với thị trường các nước trong khu vực ASEAN và thế giới. Những ngành trên có khả năng thu hút nhiều lao động, đặc biệt là lao động phổ thông, nhằm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tại và từ các địa phương khác đến. Lực lượng lao động của huyện và từ các địa phương khác đến đa số có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn thấp nên chỉ phù hợp với các công việc giản đơn, không đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao. Vì vậy, phát triển các ngành công nghiệp nêu trên trong giai đoạn này là hợp lý. Mặt khác, trong giai đoạn này cần đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm giúp họ nhanh chóng chuyển đổi nghề và thích nghi với môi trường làm việc mới trong những năm tiếp theo.
Trong giai đoạn 2016-2020 tập trung phát triển các ngành sau: đóng & sửa chữa tàu thuyền; chế biến thủy hải sản xuất khẩu; may mặc thời trang cao cấp thông qua việc thường xuyên tiến hành đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, đầu tư vốn, tăng năng suất, tăng hiệu quả sản xuất để tạo ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao, nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm. Những ngành này có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu mở rộng và phát triển các cụm công nghiệp của huyện Bình Đại trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn để giúp người lao động nâng cao trình độ chuyên môn. Từ đó họ sẽ dễ dàng hơn khi thực hiện những công việc đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao trong tương lai. Công việc đào tạo văn hóa và nghề cho công nhân là công việc thường xuyên và lâu dài. Như vậy, phát triển các ngành công nghiệp nêu trên trong giai đoạn này là hợp lý.
Phát triển thêm các mặt hàng từ phụ phẩm trái dừa như chỉ xơ dừa, dây thừng,