CHƯƠNG 3 TRIỂN KHAI IPTV TRÊN NỀN MẠNG CÁP ĐỒNG
3.4 Triển khai IPTV trên nền mạng VNPT
Nghiên cứu nâng cao chất lƣợng dịch vụ SVTH: HUỲNH HỮU LỢI IPTV trên nền mạng truy nhập cáp đồng
3.4.1 Mô hình triển khai
Nội dung đƣợc phân phối trên mạng lõi của VNPT, 3 router làm nhiệm vụ trung tâm của hệ thống truyền dẫn. Và cuối cùng là các DSLAM sẽ cung cấp dịch vụ đến nhà của khách hàng thông qua mạng truy nhập cáp đồng, còn Layer switch sẽ cung cấp dịch vụ đến nhà khách hàng bằng cáp quang.
Hình 3.3 Mô hình cung cấp dịch vụ IPTV
Nghiên cứu nâng cao chất lƣợng dịch vụ SVTH: HUỲNH HỮU LỢI IPTV trên nền mạng truy nhập cáp đồng
Core switch
Core switch
Core switch
Viễn thông Hà Nội
Core switch
VoD server
Core switch
Core switch
Core switch
Viễn thông Đà Nẵng Core switch VoD server Core
switch
Core switch
Core switch
Viễn thông Hồ Chí Minh Core switch VoD server
PE
Core router
Core router Core
router
PE IPTV Data Center
PE
PE
Hình 3.4 Mô hình tổng thể mạng cung cấp dịch vụ IPTV cuả VNPT
Nghiên cứu nâng cao chất lƣợng dịch vụ SVTH: HUỲNH HỮU LỢI IPTV trên nền mạng truy nhập cáp đồng
Trung tâm dữ liệu IPTV (data IPTV center) do công ty VASC quản lí, đặt tại địa chỉ 58, Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội, là nơi lưu trữ các dữ liệu và nguồn cung cấp dịch vụ truyền hình quảng bá lẫn dịch vụ truyền hình theo yêu cầu, đồng thời là nơi chịu trách nhiệm quản lí nội dung và điều hành việc cung cấp dịch vụ IPTV của VNPT với thương hiệu MyTV.
Tại mỗi VNPT tỉnh thành, VNPT sẽ có bố trí PE để liên kết với mạng lõi.
Theo mô hình thì một số tỉnh thành có bố trí hệ thống máy chủ để phục vụ cho dịch vụ VoD. Hệ thống truyền dẫn nội bộ trong các VNPT tỉnh thành bố trí thông qua các core switch. Các trạm DSLAM và các Switch Layer 2 sẽ đấu qua hệ thống này.
Trong mạng băng rộng nội tỉnh của các VNPT tỉnh thành phố thì thường bố trí các core switch thành mạng vòng Ring.
3.4.2 Mạng lõi
Trên cơ sở tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có của VNPT, dịch vụ IPTV đƣợc truyền trên công nghệ mạng lõi đa giao thức trên nền IP, IP/MPLS (Internet Protocol/ Multi Protocol Label Switch).
Mạng lõi có nhiệm vụ truyền tải các lưu lượng thông tin giữa hệ thống IPTV và các PE/BRAS tại các tỉnh thành. Lưu lượng truyền tải bao gồm hai loại chính là Unicast (các thông tin điều khiển các luồng trong dịch vụ video theo yêu cầu) và Multicast (dịch vụ truyền hình quảng bá).
3.4.3 Mạng tập kết và mạng truy nhập
Mạng tập kết và mạng truy nhập có nhiệm vụ truyền tải thông tin từ mạng lõi đến thuê bao. Ta đã biết rằng, các dịch vụ đƣợc ánh xạ vào mạng truy nhập theo mô hình khác nhau: mô hình N:1 VLAN và mô hình 1:1 VLAN. Với sự tăng trưởng số lƣợng thuê bao ngày càng lớn thì mô hình VLAN bộc lộ nhiều hạn chế.
Số lƣợng VLAN là giới hạn, do đó số lƣợng thuê bao có thể phục vụ cũng bị giới hạn theo. Cũng do số lƣợng VLAN còn hạn chế nên khả năng mở rộng, nâng cấp cũng nhƣ việc đƣa thêm các dịch vụ mới gặp nhiều khó khăn. Do đó, để đảm
Nghiên cứu nâng cao chất lƣợng dịch vụ SVTH: HUỲNH HỮU LỢI IPTV trên nền mạng truy nhập cáp đồng
bảo được khả năng mở rộng hệ thống, phương án ánh xạ dịch vụ trong mạng tập kết và mạng truy nhập đƣợc sử dụng là N:1 VLAN
3.4.4 Mạng khách hàng
Tại phía khách hàng, có thể sử dụng nhiều thiết bị đầu cuối khác nhau cho các loại hình dịch vụ khác nhau nhƣ truy cập Internet, IPTV, các bộ truy nhập mạng không dây.
Sử dụng thiết bị truy nhập cho DSL là modem có chức năng tách các luồng thông tin khác nhau và chuyển đến các thiết bị đầu cuối tương ứng.
3.4.5 Phương thức phục vụ IPTV
Khi có nguồn điện, STB sẽ đƣợc cấp phát một địa chỉ IP cục bộ thông qua nhận thực máy chủ DHCP, sau đó sẽ gửi yêu cầu của trang chủ cổng thông tin tới phần mềm Middleware. Chỉ khi nào tài khoản đƣợc nhận dạng chính xác trong hệ thống Middleware thì thuê bao mới nhận đƣợc dịch vụ trên STB. Dựa trên thông tin về danh sách thuê bao trên máy chủ cơ sở dữ liệu, hệ thống Middleware sẽ kiểm tra tính hợp pháp của thê bao.
Nếu xác định đúng quyền đƣợc cấp phép xem nội dung của thuê bao và số PIN đúng, hệ thống sẽ cung cấp một trang chủ cổng thông tin cho STB đó là giao diện chương trình EPG với các tính năng của gói dich vụ thuê bao (kênh quảng bá và danh sách nội dung cho yêu cầu). Nếu không đúng quyền đƣợc cấp phép và số PIN của thuê bao không đúng thì hệ thống sẽ xuất ra thông tin báo lỗi.
Khi người dùng chọn một kênh truyền hình quảng bá qua giao diện EPG, phần mềm Middleware sẽ gửi lại địa chỉ Multicastrouter/ DSLAM/ BRAS gần nhất cho STB, sau đó STB sẽ thực hiện giao thức quản lí nhóm Internet (IGMP) để yêu cầu tham gia vào nhóm Multicast nhằm thu đƣợc kênh truyền hình này.
Hệ thống Middleware sẽ lưu giữu một dãy các địa chỉ IP kể cả địa chỉ của các STB, các máy chủ VoD, máy chủ quản lí quyền nội dung số.
Nghiên cứu nâng cao chất lƣợng dịch vụ SVTH: HUỲNH HỮU LỢI IPTV trên nền mạng truy nhập cáp đồng
Trong trường hợp người dùng chọn nội dung có thu phí, hệ thống Middleware có thể xác thực người dùng này và liên kết với các mày chủ DRM để gửi khóa giải mã chính xác tới STB để giải mã xem nội dung video này.
Hệ thống DRM chứa khóa mã cho phần nội dung của một cơ sở dữ liệu khóa, đồng thời bí mật phân phối mã khóa này tới STB. Hệ thống DRM dựa trên khái niệm của hệ thống của cơ sở hạ tầng khóa công khai PKI (Public Key Infrastructure).
Thông qua bảng đều khiển STB, có thể chọn xem các kênh phát sóng miễn phí hoặc bất kì nội dung nào khác bằng cách nhấn số kênh.