CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN
4.4 Phân tích khả năng thanh toán
Hệ số cơ cấu nợ:
Cho biết tỷ lệ giữa các khoản phải thu so với các khoản phải trả của công ty từ đó có thể cho chúng ta biết được công ty đang ở trạng thái nào: cân bằng, bị chiếm dụng hay chiếm dụng vốn.
Bảng 4.18: Hệ số cơ cấu nợ ĐVT : Tỷ đồng
2012 2013 2014
Phải thu ngắn hạn 29.136.930.786 19.208.326.857 19.396.319.790 Nợ phải trả ngắn hạn 101.378.835.791 115.707.886.624 79.128.488.365
Hệ số cơ cấu nợ 0,29 0,17 0,25
( Nguồn: Phòng kế toán - tài vụ) Do đặc thù là công ty thương mại nên các khoản phải thu và phải trả đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của công ty. Nhìn vào bảng ta thấy được khoản phải thu của doanh nghiệp đang đi theo xu hướng giảm, năm 2012 khoản phải thu là 29,14 tỷ đồng chỉ còn 19,4 tỷ đồng năm 2014. Nợ phải trả ngắn hạn của công ty có sự biến động thay đổi qua các năm. Năm 2014 nợ ngắn hạn phải trả còn 79,13 tỷ đồng giảm 22,3 tỷ đồng so với năm 2012, trong đó có hai khoản mục biến động lớn là các khoản phải trả người bán giảm 30,6 tỷ đồng, các khoản phải trả người lao động tăng 7,8 tỷ đồng (số lượng lao động tăng do công ty mở rộng thêm các trạm xăng dầu bán lẻ). Hệ số cơ cấu nợ có xu hướng giảm, năm 2012 hệ số nợ là 0,29 cao nhất trong 3 năm. Từ đó cho ta thấy được công ty đang quản lý tốt các khoản phải thu, hạn chế vốn bị chiếm dụng. Đồng thời công ty đang tích cực chiếm dụng vốn, sử dụng tín dụng thương mại để tài trợ cho các hoạt động của mình thay cho vốn vay ngắn hạn.
Biểu đồ 4.2: Tỷ số quản trị nợ trong giai đoạn 2012-2014 (Nguồn: Bảng 4.18)
29.136.930.786
19.208.326.857 19.396.319.790 29%
17%
25%
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
- 20.000.000.000 40.000.000.000 60.000.000.000 80.000.000.000 100.000.000.000 120.000.000.000 140.000.000.000
2012 2013 2014
Phải thu ngắn hạn Nợ phải trả ngắn hạn Hệ số cơ cấu nợ
Năm 2013 nợ phải trả tăng lên mức cao nhất trong 3 năm đạt 115,7 tỷ đồng trong khi khoản phải thu giảm mạnh nên làm cho hệ số cơ cấu nợ giảm còn 0,17 giảm 0,12 so với năm 2012. Năm 2014, tuy hệ số có tăng so với năm 2013 nhưng vẫn thấp hơn năm 2012. Trong năm 2014, nợ phải trả ngắn hạn của doanh nghiệp giảm 36,5 tỷ đồng so với năm 2013 song song với đó khoản phải thu chỉ tăng nhẹ nên làm cho hệ số cơ cấu nợ giảm.
Việc đi chiếm dụng vốn nhiều đặt ra nhiều vấn đề trong việc điều hành của ban giám đốc. Do đặc thù là doanh nghiệp thương mại, dòng tiền ra vào thương xuyên, liên tục, công ty có thể tận dụng tính chất này, lấy đầu này đắp qua đầu kia.
Dưới sự chỉ đạo chính xác, kịp thời của ban giám đốc và sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên công ty đã kiểm soát tốt các khoản phải thu, sử dụng vốn đi chiếm dụng một cách hiệu quả, sinh lợi nhuận cho công ty, và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, kịp thời cho các đơn vị cung cấp. Công ty có kỳ luân chuyển tiền rất tốt, khoản thời gian từ khi nhận hàng, bán hàng và thu tiền luôn dư ra từ 1 ngày đến 6 ngày mới đến hạn trả nợ. Vì vậy công ty xu hướng chuyển dần nguồn cung cấp vốn để bổ sung vốn lưu động kinh doanh từ vốn vay sang vốn chiếm dụng với chi phí sử dụng vốn thấp hơn và giảm được một phần rủi ro.
CCC= Thời hạn luân chuyển hàng tồn kho
+ Thời hạn thu tiền bình quân
- Thời hạn thanh toán khoản phải trả
CCC 2012= 20 ngày + 6 ngày - 32ngày = -6 ngày CCC 2013= 20 ngày +4 ngày -28 ngày = -4 ngày CCC 2014= 13 ngày +3 ngày -15 ngày = -1 ngày
4.4.2 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của công ty phản ánh nguồn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu thanh toán khi các khoản nợ đến hạn, bằng cách liên hệ tiền mặt và các tài sản ngắn hạn của công ty với các khoản nợ hiện hành, phân tích chỉ số này cho ta một thước đo tính thanh khoản. Dưới đây là hai hệ số thanh toán được sử dụng nhiều nhất thể hiện trong bảng sau:
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, biểu thị sự cân bằng giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Nó cho ta biết được tại một thời điểm nhất định ứng với một đồng nợ ngắn hạn thì công ty có khả năng quy động bao nhiêu từ tài sản lưu động để trả nợ.
Bảng 4.19: Khả năng thanh toán ĐVT : Đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2012-2013 2013-2014
Tài sản ngắn hạn(1) 198.081.957.394 163.344.768.983 125.836.720.590 (34.737.188.411) (37.508.048.393) Hàng tồn kho(2) 130.427.557.792 105.165.817.899 76.552.678.338 (25.261.739.893) (28.613.139.561) Nợ ngắn hạn(3) 192.354.588.292 174.400.606.787 115.109.254.058 (17.953.981.505) (59.291.352.729) Hệ số thanh toán ngắn
hạn (1)/(3)
1,03 0,94 1,09
Hệ số thanh toán nhanh
[(1)-(2)]/(3) 0,35 0,33 0,43
Vốn lưu động ( tỷ đồng) 198,1 163,3 125,8
(Nguồn: Phòng kế toán –tài vụ) Hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty trong giai đoạn 2012-2014 đều nằm ở vị trí xấp xỉ bằng 1 hoặc hơn 1, do công ty sử dụng nợ nhiều trong hoạt động kinh doanh của mình. Năm 2013, hệ số này xuống mức thấp nhất trong 3 năm, mặc dù cả
nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn đều giảm nhưng tài sản ngắn hạn giảm 34,74 tỷ đồng, giảm 18% so với năm 2012, trong khi nợ phải trả giảm 17,95 tỷ đồng giảm 9% nên làm cho hệ số thanh toán giảm còn mức 0,94. Năm 2014, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn đạt mức 1,09; xu hướng giảm của tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn lại đi ngược lại với năm 2013, trong năm nợ ngắn hạn giảm 58,5 tỷ đồng tương đương 33% trong khi tài sản ngắn hạn giảm 39,5 tỷ đồng tương đương 24% nên làm cho hệ số thanh toán nợ ngắn hạn tăng.
Biểu đồ 4.3: Khả năng thanh toán trong giai đoạn 2012-2014 ( Nguồn: Bảng 4.19)
Hệ số thanh toán hiện hành đã cộng toàn bộ tài sản lưu động lại nên nhiều khi không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty. Để khắc phục điều này ta dùng hệ số khả thanh toán nhanh. Hệ số này cho ta biết khả năng thanh toán thực sự của công ty các tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán cần thiết. Để tính hệ số này thì ta loại đi khoản mục hàng tồn kho vì đây là khoản mục được cho là khó chuyển đổi thành tiền nhanh chóng.
Hệ số thanh toán nhanh giảm trong năm 2013 nhưng lại có bước đột phá trong năm 2014. Có hai lý do làm cho hệ số thanh toán nhanh của công ty tăng trong năm 2014, thứ nhất là nợ ngắn hạn trong năm 2014 giảm thấp nhất trong 3 năm chỉ còn 115,11 tỷ đồng; thứ hai lượng tồn kho giảm mạnh như đã phân tích ở phần trêncho hệ số thanh toán nhanh tăng.
Tuy khả năng thanh toán của công ty không hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán khi cần thiết nhưng với dòng tiền ra vào thường xuyên và uy tín của mình công ty hoàn toàn chủ động trong việc thanh toán những khoản nợ của mình.
Mặc khác, nhìn theo hướng tích cực công ty đã sử dụng vốn lưu động của mình một cách linh hoạt, xoay vòng nhanh, tránh tình trạng ứ động vốn làm tăng tối đa hiệu quả sử dụng vốn.
4.4.3 Khả năng thanh toán lãi vay
Gánh nặng về tài chính mà công ty phải đương đầu phụ thuộc rất lớn vào khả năng tạo ra dòng tiền để chi trả nợ theo yêu cầu hàng năm. Lãi vay là một trong những nghĩa vụ tài chính đó và được đảm bảo chi trả từ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty. Chỉ tiêu này là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo của doanh nghiệp với nợ dài hạn. Nó cho biết khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp và mức độ an toàn có thể đối với người cấp tín dụng.
Bảng 4.20: Khả năng thanh toán lãi vay ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2012-2013 2013-2014
Lợi nhuận trước thuế (1) 25.044.690.227 20.254.225.307 28.352.823.468 (4.790.464.920) 8.098.598.161 Lãi vay phải trả(2) 9.214.873.634 7.389.133.738 2.441.841.672 (1.825.739.896) (4.947.292.066) Hệ số khả năng thanh
toán lãi vay (3)=((1)+(2))/(2)
3,72 3,74 12,61
( Nguồn: Phòng kế toán- tài vụ) Qua bảng trên ta thấy khả năng thanh toán lãi vay của công ty là rất tốt, các đơn vị cấp tín dụng có thể hoàn toàn yên tâm về tình hình thanh toán tiền lãi vay của công ty, hệ số thanh toán lãi vay có xu hướng tăng qua các năm càng làm cho khả năng thanh toán này càng cao và được tín nhiệm hơn.
Biểu đồ 4.4: Khả năng thanh toán lãi vay ( Nguồn: Bảng 4.20)
3,72 3,74
12,61
0,00 5,00 10,00 15,00
- 10.000.000.000 20.000.000.000 30.000.000.000 40.000.000.000
2012 2013 2014
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả lợi nhuận trước thuế + lãi vay Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Năm 2013 hệ số thanh toán lãi vay là 3,74 biến động nhỏ so với năm 2012.
Trong năm 2013 một đồng lãi vay phải thanh toán cho đối tác cấp tín dụng được đảm bảo bằng 3,74 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, là do năm 2013 phần lãi vay giảm 1,83 tỷ đồng, giảm 20% so với năm 2012, cùng với đó là lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng giảm 4,79 tỷ đồng giảm 19% so với năm 2012 làm cho hệ số thanh toán lãi vay biến động tăng nhẹ.
Năm 2014, công ty đã mang lại cho đối tác cấp tín dụng sự an tâm hoàn toàn về khả năng thanh toán lãi vay vì hệ số thanh toán lãi vay là 12,61 tăng 2,37 lần so với năm 2013. Đây là bước chuyển lớn là do trong năm lợi nhuận trước thuế và lãi vay tăng 40% thêm vào đó phần lãi vay giảm 67% từ đó làm cho hệ số thanh toán lãi vay tăng đột biến.