4.2.1.1 Định nghĩa
Hóa chất thải nguy hại là hóa chất thải có mẫu đại diện chứa 7 đặc tính nguy hại theo quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ( dễ cháy, dễ nổ, ăn mòn, độc sinh thái,.... ) hoặc nằm trong danh mục chất thải nguy hại.
Chất thải hoá chất trong phòng thí nghiệm bao gồm những dạng chất thải sau :
Dung môi dễ cháy ( acetone , alcohol, caetonitrile…);
Chất độc hại ( kim loại nặng, thuốc trừ sâu…);
Chất ăn mòn ( hydrochloric acid, KOH dạng viên….);
Các chất hoạt tính như : cyanides, sulphides, chất oxi hoá, chất dễ nổ, các chất không ổn định, và cả những chất háo nước ;
Các chất độc hại như : chất gây biến đổi gen, chất sinh ung thư, chất gây độc mãn tính và cấp tính ( chloruaform, ethidium bromide,…);
Polychlorinated biphenyl ( nồng độ > 50ppm);
Bình khí nén;
4.2.1.2 Thu gom
Chất thải hóa chất phải phải được thu gom trong những vật chứa tương thích với hóa
Thiết bị chứa phải thõa mãn các yêu cầu sau :
Tương thích với hóa chất chứa bên trong
Cứng, chắc và không bị rò rỉ
Kích thước phù hợp
Được đóng lại suốt quá trình chứa, trừ trường hợp thêm chất thải vào.
Đối với hóa chất cần tuân thủ một số nguyên tác trước khi thải bỏ :
Không được trộn lẫn các chất không tương thích với nhau.
Chất thải được chứa trong vật chứa phải tương thích với hoá chất thải.
Ví dụ : acid HCl không được chứa trong vật chứa bằng thuỷ tinh, hoá chất ăn mòn không chứa trong vật chứa bằng kim loại..
Những thùng đựng dung môi an toàn nên được sử dụng để thu gom và lưu trữ tạm thời một thể tích lớn các dung môi hữu cơ dễ cháy (10-20 lit)
Thu gom các chất thuộc nhóm halogen riêng biệt.
Không thu gom hoá chất thải vào các bao chứa chất thải sinh học nguy hại.
Đối với những chất thải không rõ thành phần và tính chất không được trộn lẫn với chất thải khác tránh trường hợp hình thành các sản phẩm phụ không mong muốn gây cháy nổ.
4.2.1.3 Dán nhãn :
Hoá chất thải được dán nhãn theo những yêu cầu sau :
Dán nhãn hoá chất thải trực tiếp lên vật lưu trữ.
Tất cả các thông tin được yêu cầu trên nhãn dán hoá chất thải cần phải rõ ràng, tên tổng quát của chất thải phải được liệt kê, không viết tắt, không ký hiệu hoặc sử dụng tên thương mại.
4.2.1.4 Lưu trữ :
Hóa chất thải phải được lưu trữ ở một nơi tách biệt và có khoảng cách an toàn.
Những yêu cầu để lưu trữ hoá chất thải bao gồm những yêu cầu sau :
Hoá chất thải nên được lưu giữ trong một khu vực riêng biệt và chỉ nên lưu giữ tạm thời trong khu vực phòng thí nghiệm và dưới tầm kiểm soát của người quản lý.
Tất cả những yêu cầu phòng ngừa cho việc xử lý và thải bỏ sẽ được cung cấp cho người quản lý phòng thí nghiệm.
Hoá chất thải nên được tách riêng theo tính tương thích theo nhóm như acids, bases, chất dễ cháy, chất oxy hoá và chất háo nước và không nên sắp đặt theo thứ tự ABC…
Thay thế các thùng chứa củ, một vài hoá chất rất nhạy cảm và có thể phát thải ra sản phẩm phụ khi lưu giữ hoặc sinh ra hợp chất peroxide hữu cơ dễ nổ.
Tương thích hoá chất :
Khi thải bỏ hoá chất thải, người quản lý phòng thí nghiệm phải chắc chắn rằng các hoá chất không tương thích không được lưu trữ cùng một vật chứa. Vật chứa chất thải nên được lưu trữ theo khả năng phản ứng của hoá chất tương thích :
Hợp chất acid hoạt tính ( cyanide, sulphide…) phóng thích các sản phẩm khí khi acid hoá không nên để lẫn để lẫn với acid vô cơ ( sulphuric va hydrochloric acid )
Các acid hữu cơ ( acid lactic..) nên được tách riêng với acid vô cơ. Thông thường, các acid vô cơ này là các tác nhân oxy hoá trong khi các acid hữu cơ có thể gây cháy
Các chất háo nước ( sodium ) nên cách xa nguồn nước.
Các chất oxy hóa ( bất kỳ hợp chất vô cơ nào đều có thể bắt lửa như hydrogen peroxide, chì nitrat ), không bao giờ để lẫn lộn với các chất hữu cơ ( pyridine, aniline, amine, dung môi dễ cháy như toluoen, acetone ) hoặc các tác nhân biến dễ biến đổi ( các hóa chất háo nước như sodium )
Acid perchloric mặc dù là acid vô cơ, nhưng là một tác nhân oxy hoá và có thể được xem như là chất oxy hoá mạnh theo nồng độ của nó.
4.2.2 Chất thải nguy hại có nguồn gốc sinh học 4.2.2.1 Định nghĩa
Chất thải nguy hại sinh học là chất thải chứa tác nhân sinh học tiềm tàng, lây nhiễm,…có đặc tính nguy hại được nêu trong danh mục chất thải nguy hại theo quyết định số 23, thông thường là những loại sau :
Các vật liệu đựơc sử dụng làm môi trường cấy có mang mầm bệnh, máu hoặc các thành phần huyết thanh, chứa các tác nhân sinh học sống;
Những vật liệu được xem như là đường dẫn, bất cứ những phần nào trên cơ thể, tế bào, dịch cơ thể, bao gồm những chất thải lỏng, răng, tóc, kẹp và những chất tương tự có thể lây nhiễm;
Những phần cơ thể của động vật thí nghiệm được nghi ngờ có chứa tác nhân lây nhiễm;
Những loại chất thải khác như : bình thuỷ tinh, đĩa petri, ống nhựa, găng tay, giấy gói, giấy hút… có chứa các tác nhân sinh học;
Tất cả các vật liệu được sử dụng trong nghiên cứu, thao tác trên động vật thí nghiệm có thể chứa các tác nhân lây nhiễm tiềm ẩn;
4.2.2.2 Thu gom – xử lý
Tất cả chất thải chứa tác nhân sinh học nguy hại đều phải được thu gom và chứa trong những vật chứa thích hợp, phải được khử trùng – diệt khuẩn trước khi xử lý - Những loại chất thải này ngoài những yêu cầu chung khi đóng gói ngoài ra còn tuân thủ những yêu cầu sau :
a) Chất thải dạng lỏng chứa tác nhân sinh học nguy hại:
Chất thải lỏng phải được chứa trong những thùng chứa không rò rỉ, thủng như là chai thuỷ tinh, bình…
Thùng chứa phải được thiết kế sao cho có thể chịu được nhiệt độ của lò hấp khử trùng, cho phép áp suất cân bằng, và không được hàn kín;
b) Chất thải dạng rắn chứa các tác nhân sinh học :
Chất thải không có cạnh sắc nhọn, các đĩa petri bằng nhựa, bình chứa tế bào, các ống nhựa rỗng, găng tay, giấy gói, giấy hút, tế bào hấp thu.. có chứa các tác nhân sinh học nguy hại nên được thu gom trong các túi hấp khử trùng. Các túi này phải dán các nhãn cảnh báo và các hướng dẫn khi lưu trữ.
Các túi hấp khử trùng nên được sử dụng cho các loại chất thải không có cạnh sắc nhọn, các chất thải có chứa các tác nhân sinh học nguy hại. Không nên sử dụng các túi này chứa các chất thải không nguy hại, chất thải không có nguồn gốc sinh học có yêu cầu xử lý đặc biệt.
Một lượng lớn các chất thải dưới dạng môi trường trong các đĩa petri và các ống nghiệm cần phải khử trùng và được thu gom trong các xô đựng trong
phòng thí nghiệm. Sau khi hấp và làm nguội, các xô này phải được để bên cạnh các loại chất thải trong khi chờ đem xử lý;
Đối với chất thải là xác động vật cần phải được giữ lạnh cho đến khi được chuyển đi xử lý.
c) Khử trùng và diệt khuẩn :
Những tác nhân sinh học nguy hại không hoạt động sau khi tiến hành khử trùng và diệt khuẩn sẽ mất đi các đặc tính nguy hại. Do đó để tiến hành thải bỏ an toàn cần được tiến hành khử trùng và diệt khuẩn.
Mặc dù hoá chất khử trùng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình khử trùng chất thải, tuy nhiên, cần thận trọng và đảm bảo các yếu tố an toàn.
Khử trùng bằng lò hấp khử trùng là một phương pháp được sử dụng trong việc khử trùng chất thải sinh học. Phụ thuộc vào thể tích chất thải mà kéo dài với điều kiện nhiệt độ và áp suất cao.
Những thùng chứa chất thải dưới dạng lỏng phải đựơc cho vào các khay có thể hấp khử trùng có sức chứa đảm bảo tất các chất lỏng trong trường hợp bị nứt vỡ bên trong phòng hấp. Cần thận trọng khi những chất lỏng trong lò hấp nóng và hơi cao.
Các túi hấp khử trùng chứa chất thải cần được đóng đậy lại nhưng không hàn kín để cho phép sự xuyên thấu trước khi đặt vào phòng hấp khử trùng. Sau khi hấp khử trùng và làm nguội, các túi khử hấp khử trùng này được chứa trong các túi đựng rác thải bằng nhựa, các túi này có thể lưu giữ theo thời gian quy định lưu giữ;
Các túi nhưạ đựng các bao hấp khử trùng phải được cột chặt không cho hở miệng bao;
4.2.2.3 Dán nhãn
- Các túi nhựa chứa các bao hấp đã được khử trùng không cần thiết dán nhãn
- Những người có trách nhiệm trong phòng thí nghiệm cần được thông báo không di chuyển các bao có dấu hiệu cảnh báo nguy hại chứa các vật sắc nhọn.
4.2.2.4 Lưu giữ – thải bỏ
Sau khi khử trùng và diệt khuẩn bằng hoá chất, những chất lỏng vô hại có thể được đổ vào hệ thống cống. Dội nước để tẩy rửa ống ngay lập tức sau khi đổ chất thải vào cống;
Không đổ thạch nấu chảy vào trong bồn rửa và ống dẫn nước thải, cho phép thải sau khi làm nguội, khử trùng và được xem như chất thải rắn.
4.2.3 Dụng cụ thuỷ tinh – nhựa thải 4.2.3.1 Định nghĩa
Dụng cụ thuỷ tinh, nhựa thải bao gồm :
Các dụng cụ thuỷ tinh bị vỡ, mẻ như : bình tam giác, berche, bình đong,…
Các pipet, các ống nghiệm, cuvec bị bể, nứt, vỡ,…
4.2.3.2 Thu gom
Tất cả các dụng cụ thuỷ tinh khi được thải bỏ có dính hoá chất đều được xem là chất thải nguy hại phải được thu gom cẩn thận và được chứa trong những thùng chứa an toàn trước khi vận chuyển.
Không được chứa các dụng cụ thải này trong các bao nylon sử dụng để thu gom chất thải rắn thông thường.
a) Dụng cụ thủy tinh – nhựa thải có dính các tác nhân sinh học nguy hại :
Tất cả các dụng cụ thải có dính các tác nhân sinh học nguy hại trước khi thải bỏ phải khử trùng, diệt khuẩn.
Sau khi hấp khử trùng có thể để gần các chất thải sinh hoạt chờ vận chuyển b) Dụng cụ thủy tinh thải có dính hoá chất :
Các dụng cụ trong quá trình làm thí nghiệm nếu bị vỡ phải được thu gom trong những thùng chứa an toàn và tách riêng với các dụng cụ không dính hoá chất
Không được di chuyển các bao chứa dụng cụ thải được xem là chất thải nguy hại nếu chưa được chứa trong các thùng chứa an toàn.
Tách riêng các dụng cụ thải không dính hoá chất hoặc các tác nhân sinh học để thu gom riêng biệt.
4.2.3.3 Dán nhãn
Các thùng chứa các dụng cụ thải phải an toàn và không bị thủng. Cần ghi các thông tin cần thiết để nhận biết chất thải chứa các tác nhân sinh học nguy hại và hoá chất để tiến hành vận chuyển đến nơi xử lý.
4.2.3.4 Lưu giữ – thải bỏ
Để lưu giữ tạm thời các chất thải có chứa các tác nhân sinh học nguy hại phải được khử trùng diệt khuẩn, các chất thải có dính hóa chất phải được thu gom và đóng gói an toàn không để rò rỉ và phát sinh các hợp chất phụ.
4.2.4 Chất thải hỗn hợp
Phòng thí nghiệm có thể thải ra các nguồn thải co chứa hỗn hợp chất thải bao gồm hóa chất, tác nhân sinh học, …Và được định nghĩa như là chất thải chứa nhiều hơn một loại chất thải.
Đối với chất thải hỗn hợp cần được khử trùng trước, sau khi khử trùng thì chất thải hỗn hợp được xử lý, thu gom và lưu giữ như là hóa chất thải.
Bất kỳ chất thải nào dính chất thải nguy hại thì tất cả được xem là chất thải nguy hại 4.2.5 Nước thải có chứa các đặc tính nguy hại
4.2.5.1 Định nghĩa
Nước thải từ các phòng thí nghiệm thường chứa các hóa chất độc hại với nồng độ cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quy định. Các hóa chất độc hại khu vực này thường là các kim loại nặng ( Cd, Ni, Cr, Cu, Zn, Hg, Pb,…), các chất có tính acid hay kiềm ( H2SO4, HCl, HNO3, CH3COOH, NaOH, Na2CO3,…), các chất khó phân hủy ( thuốc thử hữu cơ ) và các hợp chất dung môi hữu cơ nhóm dung môi ( toluen, xylen, MEK, CHCl3,…), các ion như CN-, các dung dịch có tính acid, các dung dịch có tính kiềm, Một lượng đáng kể các kim loại kiềm cũng được phát thải vào trong môi trường như Na, K, Li, hợp kim Na – K.
4.2.5.2 Xử lý – thải bỏ
Việc xử lý một số chất và chất trước khi thải bỏ cần chú ý và cẩn trọng.
Các dung dịch chứa CN- :
Dung dịch có chứa ion CN- trong phân tích Pb được thu gom và lưu trữ riêng. Tuyệt đối không đổ lẫn acid vào tránh sự tạo thành của acid HCN rất nguy hiểm. Khi đủ số lượng dung dịch cần phải xử lý cần phải khử độc bằng dung dịch KMnO4 hoặc
Các dung dịch có tính acid :
Các dung dịch có tính acid phải được thu gom vào bình đựng bằng vật liệu Polyethylene. Trung hòa bằng kiềm đến pH 9. Tách cặn lắng có thể chứa các kim loại nặng để xử lý riêng . Phần nước trong được trung hòa đến pH trung tính trước khi xả thải vào labo.
Các dung dịch có tính kiềm :
Các dung dịch có tính kiềm phải được thu gom vào bình đựng bằng vật liệu Polyethylene. Trung hòa bằng kiềm đến pH 9. Tách cặn lắng có thể chứa các kim loại nặng để xử ly riêng . Phần nước trong được trung hòa đến pH trung tính trước khi xả thải vào labo.
Các dung dịch thuốc thử hữu cơ khó phân hủy :
Dầu mỡ và các dung dịch thuốc thử khó phân hủy trong phòng thí nghiệm được thu gom vào chai thủy tinh ( không sử dụng đồ nhựa – polyethylene ). Khi đủ số lượng, cho than hoạt tính vào lắc đều và ngâm khoảng 30 phút. Phần nước trong xả thải, phần than đã hấp thụ các chất hữu cơ được tách ra đem đốt.
Các dung dịch chứa các anion dễ kết tủa :
Trong dung dịch phòng thí nghiệm nếu có các anion dễ kết tủa như SO42-
, PO43-, C2O42-,… cần tham khảo bảng số tính tan của các muối để có thể kết tủa chúng. Phần nước trong pha loãng và xả thải. Phần kết tủa đem bêtông hóa để chôn lấp an toàn.
Các dung dịch có các anion khó kết tủa :
Dung dịch có chứa các anion khó kết tủa như nhóm halogen ( Cl-, Br-, I-, NO3-, …) chỉ có thể trung hòa đến trung tính rồi pha loãng nhiều lần trước khi xả thải.
Loại bỏ các mẫu kim loại kiềm còn sót lại sau quá trình phân tích – thí nghiệm.
- Đối với các mãnh vụn liti có thể hòa tan trong một lượng lớn nước lạnh ( tiến hành trong tủ hút ). Còn mạt liti do có khả năng phản ứng rất mạnh, vì vậy phải dùng một lượng nhỏ etanol phân hủy dần dưới lớp dung môi hydrocarbon.
- Đối với Natri : với một lưong nhỏ hơn 5g cần được phân hủy chậm trong cốc sứ bằng từng phần nhỏ ethanol cho đến lúc hòa tan.
- Đối với Kali : cho vào kali thải một hỗn hợp ether petol và isopropanol khan ( tỉ lệ 1 : 1 ). Không được phép trộn lẫn các mãnh Natri và Kali thải chung với nhau do
khi hai kim loại này tiếp xúc với nhau sẽ tạo ra một hợp kim với tỷ lệ kim loạ nhất định, hợp kim sẽ tồn tại trạng thái lỏng ở nhiệt độ phòng, đây là hợp chất chất nguy hiểm.
4.2.6 Khí thải tại phòng thí nghiệm 4.2.6.1 Định nghĩa :
Khí thải có đặc tính nguy hại phát sinh trong phòng thí nghiệm là một điều không thể tránh khỏi đặc biệt là hơi một số dung môi hữu cơ và một số hơi của một số hợp chất bay hơi dễ bắt lửa.
Khí thải trong phòng thí nghiệm bao gồm các hơi do các phản ứng sinh ra như các oxit acid (NO2, SO2, SO3,…), các hợp chất mercaptan, H2S, các hơi dung môi, và các hợp chất hữu cơ,…
4.2.6.2 Xử lý – thải bỏ
Việc xử lý khí thải phát sinh trong phòng thí nghiệm là điều cần thiết và để đảm bảo an toàn cho người tiếp xúc với các hơi và khí sinh ra.
Xử lý khí thải do các phản ứng điều chế :
Các oxit acid sinh ra từ các phản ứng như NO2, SO2, SO3 thường được hấp thụ bằng dung dịch kiềm tạo muối tương ứng , ít độc hơn và quan trọng hơn là cô lập được chúng. Khi đạt môi trường trung tính có thể pha loãng bằng nước và xả bỏ.
Xử lý khí mercaptan, H2S :
Khi phân tích các thông số này, khâu phải quan tâm la tạo các chất làm chuẩn. Đặc biệt là mercaptan, trên thị trường không có sẵn, do vậy phải điều chế chúng. Khả năng khuyếch tán vào không khí của mercaptan rất lớn và là chất nhạy cảm với khứu giác con người do vậy gây cảm giác khó chịu.
Để xử lý, hấp thu mercaptan vào dung dịch Pb(CH3COOH)2 tạo mercaptaid chì.
Phần khí dư cho hấp phụ vào silicagel. Toàn bộ dung dịch xút và sillica gel sau khi sử dụng phải chứa vào bình kín và đem di xử lý bằng lò đốt chất thải nguy hại.
Xử lý các hơi hợp chất hữu cơ, dung môi :
Đối với các phép phân tích có sử dụng dung môi hữu cơ chiết tách, trước tiên phải