Qua việc khảo sát thực tế tại một số phòng thí nghiệm hóa học và sinh học ở 9 trường trong tổng số 17 trường đại học có các ngành thuộc khối ngành kỹ thuật cho
sinh viên về chất thải nguy hại còn mơ hồ, chưa có khái niệm đúng đắn cũng như những hiểu biết về tác hại của CTNH gây ra cho sức khỏe và môi trường nếu không được kiểm soát.
Quá trình phát sinh chất thải ở mỗi trường có những đặc trưng khác nhau tuỳ thuộc vào việc giảng dạy chuyên ngành cũng như quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, theo thực tế cho thấy, hầu như lượng chất thải nguy hại phát sinh đều không được kiểm soát, một số trường tuy có phân loại nhưng sau khi phát thải khỏi phòng thí nghiệm đều được trộn lẫn vào rác sinh hoạt, nước thải thì đổ trực tiếp vào hệ thống cống, khí thải chưa được quan tâm đúng mức.
BẢNG 15 : Danh sách trường khảo sát
STT Tên trường Số PTN khảo sát
1 Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh 10 phòng 2 Đại học Khoa Học Tự Nhiên Tp. HCM 7 phòng
3 Đại học Công nghiệp 1 phòng
4 Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật 2 phòng
5 Đại hoc Kỹ Thuật Công Nghệ Tp.HCM 3 phòng
6 Đại học Văn Lang 1 phòng
7 Đại học Bán Công Tôn Đức Thắng 1 phòng
8 Trung Tâm Đào Tạo Cán Bộ Y Tế Tp.HCM 1 phòng 9 Khoa dược Trường Đại Học Y Dược Tp.HCM 1 phòng
Kết quả khảo sát về ý thức đối với chất thải nguy hại ở các sinh viên thuộc các trường cho thấy 80% sinh viên không biết về chất thải nguy hại, 20% sinh viên chỉ có kiến thức về chất thải nguy hại chỉ dừng ở khái niệm mà chưa hiểu về đặc tính cũng như tác hại mà chất thải nguy hại gây ra.
Việc khảo sát cũng cho thấy, 95% sinh viên không biết cách phân loại chất thải nguy hại sau quá trình thực nghiệm, và 90% sinh viên quan tâm đến tác hại chất thải nguy hại. Điều này cho thấy việc giảng dạy kiến thức về chất thải nguy hại nói chung và chất thải nguy hại PTN nói riêng chưa được giảng dạy phổ biến tại các trường.
BIỂU ĐỒ 1 : Sự quan tâm của sinh viên đến tác hại của CTNH
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
1 2
Hinh thuc lua chon
Ti le
Hình thức lựa chọn : 1 – có, 2 – không quan tâm Qua thực tế khảo sát, kết quả đánh giá như sau : 5.1.1 Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM
5.1.1.1 Cơ sở vật chất phòng thí nghiệm
Theo kết quả khảo sát, trong khuôn viên trường hiện nay có 96 PTN, trong đó, số lượng PTN hóa học và sinh học chiếm 26 phòng trong tổng số 96 PTN.
BẢNG 16 : Phòng thí nghiệm trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM
STT Tên khoa
Số lượng PTN Hóa học – sinh
học
PTN khác
1 Công nghệ hóa học 16 2
2 Xây dựng 2 10
3 Cơ khí - 3
4 Môi trường 2 1
5 Địa chất - Dầu khí - 4
6 Công nghệ thông tin - 15
7 Khoa khoa học ứng dụng - 3
9 Kỹ thuật giao thông - 2
10 Điện – điện tử - 14
Ngoài các PTN phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu cho sinh viên , trường còn có 3 xưởng thực hành và 6 trung tâm nghiên cứu, một viện trong khuôn viên trường.
5.1.1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải
Qua kết quả khảo tại 10 PTN trong khuôn viên trường cho thấy vấn đề chất thải nguy hại không được quản lý, các thiết bị an toàn không đầy đủ nếu xảy ra cháy nổ ,..
Nước thải
- Hiện nay, trong khuôn viên trường không có hệ thống xử lý nước thải cũng như xử lý sơ bộ trước khi xả thải mà thải trực tiếp vào hệ thống cống sau quá trình thực hành của sinh viên, cán bộ nghiên cứu. Trong đó, một số chất độc hại không được xử lý mà thải trực tiếp vào hệ thống cống.
- Chưa có thiết bị thu gom các dung dịch thải có đặc tính nguy hại.
- Dung dịch thải chứa các ion kim loại nặng, các chất hữu cơ độc hại, thủy ngân,…
- PTN hữu cơ có thành phần thải đặc trưng là các dung dịch có chứa các chất hữu cơ có đặc tính gây ung thư.
Khí thải
Lượng khí thải sinh ra trong quá trình thực nghiệm của sinh viên tuy là không đáng kể nhưng về thành phần tuỳ thuộc vào chỉ tiêu phân tích của từng phòng mà có những đặc trưng khác nhau.
- PTN hữu cơ thuộc khoa công nghệ hóa học, trong quá trình thực hành tiếp xúc nhiều với hơi dung môi đặc biệt một số chất có thể gây ung thư như CH2Cl2, xylene,…tuy nhiên, hệ thống thông thoáng khí không được quan tâm, yếu tố về vệ sinh PTN không được quan tâm.
BẢNG 17 : Một số chất sử dụng trong PTN hóa hữu cơ tại trường ĐH Bách Khoa
Nguyên chất Dung môi
Toluen Phenol
Bentonite n - hexane
K2Cr2O7 N – butanol
Aceton Benzel
KI CH2Cl2 , CHCl2, ..
- Các hơi, khí sinh ra từ các phản ứng trong các phân tích không có hệ thống thông thoáng hơi
Chất thải rắn
- Chất thải rắn không được phân loại cũng như thu gom.
- Các hóa hóa chất hư hỏng, không sử dụng để lộn xộn, một số hủ đựng hóa chất độc hại còn để bên ngoài, vứt trong PTN như sodium arsenate và sodium arsenite, benzel,..
- Dụng cụ thải như pipet, ống nghiệm không được thu gom riêng mà để lẫn vào trong chất thải sinh hoạt.
- Các môi trường sau khi tiến hành cấy vi sinh thực nghiệm không được hấp khử trùng và diệt khuẩn trước khi thải bỏ.
- Tất cả chất thải rắn sau khi ra khỏi PTN đều được trộn vào rác sinh hoạt thu gom theo rác sinh hoạt.
Trong các PTN sinh viên chưa được trang bị khẩu trang, găng tay khi làm việc chung với các chất độc hại, danh mục hóa chất cũng như tài liệu về an toàn PTN không có sẳn trong PTN.
Tuy nhiên, một số PTN có phân loại chất thải và có các giỏ đựng rác nhưng không đảm bảo an toàn nếu thu gom chất thải nguy hại
Thu hồi – tái sử dụng
Ở một số PTN có thu hồi một số chất để sử dụng lại như thu hồi và sử dụng lại CHCl2, methanol, cồn, ethyacetate,…
Các chai lọ thuỷ tinh được sử dụng lại đựng hóa chất, các dung dịch pha ,..
Ý thức sinh viên
Sinh viên không quan tâm nhiều đến chất thải nguy hại, không có ý thức thu gom chất thải sau khi thực hành.
5.1.1.3 Nhận xét
- Chất thải rắn không được phân loại nguy hại – không nguy hại mà thu gom chung với chất thải sinh hoạt.
- Nước thải chưa xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống cống.
- Hệ thống thông thoáng khí trong PTN chưa tốt.
5.1.2 Trường khoa học tự nhiên 5.1.2.1 Cơ sở vật chất phòng thí nghiệm
Hiện nay, trường có tổng thể 7 khoa với gần 110 phòng thí nghiệm thực hành. Trong đó, số lượng phòng thí nghiệm thuộc hóa học và sinh học hiện nay là 24 phòng.
BẢNG 18 : Số lượng PTN trong một số khoa
STT Tên khoa Số lượng PTN
1 Khoa hóa học 14
2 Khoa sinh học 6
3 Khoa công nghệ sinh học 3 ( A, B, C )
4 Khoa môi trường 1
Trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm đáp ứng nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu của sinh viên và cán bộ.
5.1.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải nguy hại tại
- Hiện nay, PTN trong trường nhìn chung chất thải phát sinh tương đối đa dạng, các PTN thuộc khoa hóa phát sinh hóa chất thải chứa các thành phần nguy hại, các PTN thuộc khoa sinh học và công nghệ sinh học có chứa các tác nhân sinh học có thể gây nguy hại nếu không được quản lý chặt chẽ. CTNH không được phân loại riêng, không được dán nhãn cảnh báo cũng như cho biết thành phần và đặc tính của chất thải. Không có thùng thu gom các dung dịch thải,…
Nước thải
- Do tính chất và đặc trưng các chỉ tiêu phân tích cũng như các bài thực hành của sinh viên thuộc các PTN khác nhau nên tính chất và thành phần nước thải cũng đặc trưng, Các PTN thuộc về hóa học chất thải chủ yếu là các dung dịch sau khi thử
nghiệm có pH cao hoặc thấp, chứa một lượng chất hữu cơ có thành phần độc hại như benzen, formaldehyde, …
- Do quá trình khảo sát còn gặp nhiều khó khăn nên chưa thể định về lượng cũng như chất trong nước thải. Nhưng nhìn chung, vấn đề nước thải trong PTN hiện nay có chứa các thành phần nguy hại chỉ được pha loãng tuy nhiên chưa đúng theo quy cách pha loãng, chưa được xử lý sơ bộ trước khi xả thải vào hệ thống cống.
- Đối với các PTN sinh học, nước thải chứa các thành phần nguy hại, lây nhiễm chưa được thu gom, khử trùng diệt khuẩn trước khi xả thải.
Khí thải
- Trong hầu hết các PTN trong khoa hóa đều có hệ thống tủ hút hóa chất có sinh các hơi, khí như acid dung môi. Tuy nhiên, các khí sinh ra từ các phản ứng vẫn chưa được kiểm soát.
- Trong các PTN hữu cơ sử dụng các dung môi độc hại do tính chất của các chỉ tiêu phân tích. Hóa chất được quản lý rõ ràng, và có sự sắp đặt theo tương thích, có dán nhãn tuy nhiên, dung môi thải không được xử lý mà chỉ cho bay hơi trong tủ hút rồi thải bỏ.
Chất thải rắn
- Riêng vấn đề chất thải rắn, hiện nay vẫn chưa được quan tâm và phân loại. Chỉ tính riêng các PTN hóa học, hóa chất thải, hư hỏng chỉ được pha loãng sơ và trực tiếp đổ vào hệ thống cống, các hủ, chai lọ đựng hóa chất sau khi phân loại thì vẫn được gom chung vào rác thải sinh hoạt.
- Dụng cụ thủy tinh thải được vứt bừa bãi và gom chung vào thùng rác sinh hoạt, không được để trong các thùng rác an toàn ( PHỤ LỤC HÌNH ẢNH ).
- Các mẫu thí nghiệm trong các PTN sinh học, các môi trường có cấy vi sinh chưa được diệt khuẩn, chưa được khử trùng trước khi thải.
- Không có khu vực lưu giữ chất thải trong PTN.
Thu hồi – tái sử dụng
Hiện nay, trong PTN hóa học hữu cơ có thu hồi lại các dung môi để sử dụng lại.
Một số chai lọ thủy tinh đựng hóa chất được sử dụng lại sau khi hết hóa chất.
Dung dịch chứa các kim loại quý chưa được thu hồi lại.
- Kết quả khảo sát sinh viên cho thấy 90% cho biết chất thải không được thu gom, phân loại và không biết cách phân loại chất thải. 80% sinh viên không biết về khái niệm chất thải nguy hại cũng như đặc tính nguy hại. Và hơn thế, 90% sinh viên quan tâm đến ảnh hưởng của chất thải nguy hại và các tài liệu liên quan.
- Ý thức – kiến thức của sinh viên về chất thải nguy hại hiện nay chưa cao. Do đó việc giáo dục ý thức cho sinh viên là điều cần thiết.
5.1.2.1 Nhận xét
- Chất thải rắn nguy hại vẫn chưa được phân loại và thu gom. Chất thải rắn vẫn còn để lẫn lộn với rác thải sinh hoạt, các dung dịch hóa chất sau khi thử nghiệm vẫn chưa được xử lý sơ bộ giảm tính độc trước khi xả thải vào hệ thống cống. Các chất thải có chứa các thành phần sinh học nguy hại vẫn chưa được khử trùng trước khi thải.
- Vệ sinh PTN tương đối sạch và gọn gàng, hóa chất được lưu trữ theo tương thích và có các dấu hiệu cảnh báo. Hệ thống tủ hút trong PTN hoạt động tốt, tuy nhiên chưa có thông thoáng khí trong PTN.
- Chưa có các tài liệu về an toàn PTN, các tài liệu về ứng cứu sự cố PTN 5.1.3 Một số trường đại học khác
Ngoài ra, qua kết quả khảo sát tại một số PTN trong các trường như Đại học Y Dược, Sư Phạm Kỹ Thuật, Văn Lang, Trung Tâm Đào Tạo và Bồi Dưỡng Cán Bộ Y Tế,…
thực trạng chung của việc phát sinh và quản lý chất thải nguy hại còn gặp nhiều bất cập trong khâu phân loại, thu gom, thải bỏ, và ý thức của sinh viên.
Theo kết quả quan sát trong thời gian qua cho thấy, các vấn đề liên quan đến chất thải nguy hại như sau :
- Chất thải rắn : chưa được phân loại, thu gom, chưa có thiết bị thu gom riêng.
Đáng quan tâm nhất là hóa chất thải chưa được thu gom xử lý, các chất thải có chứa các thành phần sinh học lây nhiễm chưa được khử trùng – diệt khuẩn. Các hóa chất hư hỏng, các lọ đựng hóa chất thải còn vất lung tung, lẫn lộn với chất thải sinh hoạt.
Một số loại thuốc thử không được xử lý trước khi thải bỏ mà được xả thải vào hệ thống cống. Các dụng cụ thải chưa được thu gom trong các thùng an toàn đảm bảo không gây trầy xước cho sinh viên.
- Nước thải : các dung dịch sau khi thử nghiệm không được thu gom trong các thùng chứa mà chỉ được pha loãng sơ trước khi đổ vào hệ thống cống. Trong dung
dịch thải có chứa các thành phần im loại nặng như Cr, Ni, Cd, As; các ion NO3-
, NO2-, Cl-; các acid như HNO3, H2SO4; các thuốc thử hữu cơ; các dung dịch hữu cơ có độc tính gây ung thư như benzen, vynil chlorua, toluene, dichloro methane, … - Khí thải : khí thải chủ yếu là hơi các dung môi, hơi acid, và các khí sinh ra từ các phản ứng. Chủ yếu là hơi của các acid đậm đặc như acid sulfuric, acid nitrit; hơi các dung môi như toluene, benzen, methanol, ether,…Các khí sinh ra từ các phản ứng chưa được kiểm soát.
Riêng các trường thuộc khối Y như Trung Tâm Đào Tạo Cán Bộ Y Tế, qua khảo sát cho thấy các chất thải có thành phần sinh học nguy hại được thu gom và được xem như là chất thải y tế sau khi thải bỏ. Các chất thải này được thu gom và xử lý riêng.Tuy nhiên, các hóa chất thải vẫn chưa được thu gom và xử lý.
Ngoài ra, một số PTN trong các trường một số chất được thu hồi và sử dụng lại phụ vụ cho việc phân tích trong PTN.
Tóm lại, qua thời gian khảo sát tại các trường đại học cho thấy việc phát sinh và quản lý chất thải nguy hại tại các trường vẫn còn nhiều bất cập, các hóa chất nguy hại ngày ngày vẫn được thải ra mà chưa có biện pháp xử lý trước khi xả thải. Các mối nguy hại tiềm tàng vẫn còn tồn đọng mà chưa có các biện pháp an toàn. Do đó, cần phải có chương trình quản lý chất thải nguy hại PTN nói riêng và CTNH trong khuôn viên trường đại học nói chung để quản lý một cách chặt chẽ hơn về CTNH, đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường.
5.2 Hiện trạng phát sinh chất thải nguy hại PTN tại trường đại học Kỹ Thuật Tp.HCM
Theo những con số thống kê từ lượng hóa chất sử dụng hằng năm, tổng lượng hóa chất sử dụng tại 3 PTN là 220 kg hóa chất và 200 lít dung dịch nguyên hóa chất, hầu hết các chất này được thải trực tiếp vào trong môi trường mà không có sự kiểm soát hay xử lý sơ bộ trước khi thải. Trong đó, lượng hóa chất độc hại có tính chất gây ung thư hay biến đổi gen tương đối thấp, chủ yếu là các acid, bazơ, một số muối kim loại nặng, một số loại thuốc thử hữu cơ,….
BẢNG 19 : Lượng hóa chất sử dụng qua các năm
STT Năm Khối lượng hóa Thể tích dung
chất nguyên chất ( kg )
dịch ( lít )
1 2001 30 29
2 2002 29 16
3 2003 70 22.6
4 2004 20 15.6
5 2006 15.5 16
6 2007 12.65 23.2
Tuy lượng thải là không đáng kể so với các nguồn công nghiệp, tuy nhiên thành phần chất thải chứa các chất độc hại có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ và môi trường.
Qua việc khảo sát tại PTN cho thấy còn nhiều bất cập trong khâu thải bỏ chất thải tại PTN. Chất thải chưa được phân loại, thu gom dán nhãn, các yếu tố về an toàn chưa được quan tâm đúng mức. Hơn nữa, các hóa chất sử dụng trong thực nghiệm gây ra các mối nguy hại chỉ có thể phát hiện trong nhiều năm sau đó.
Chất thải PTN bao gồm hóa chất thải, dụng cụ thải, nước thải, chất thải rắn, khí thải.
BẢNG 20 : Thành phần các loại chất thải nguy hại trong PTN
STT Loại chất thải Thành phần
1 Chất thải rắn - Hộp nhựa, bao bì đựng hóa chất, chai lọ đựng hóa chất
- Găng tay, khẩu trang,..
- Giấy lọc, giấy vệ sinh thiết bị, giẻ lau,..
- Dụng cụ thủy tinh : pipet, puret, đĩa petri, bình định mức, chai COD,…
- Hóa chất hư hỏng
- Môi trường có các cấy thành phần vi sinh
- Pin, nhiệt kế thủy ngân,..
2 Khí thải - Hơi acid như HNO3, H2SO4,…
- Khí sinh ra từ các phản ứng : SO2, NH3,..
- Hơi ether,..
3 Nước thải - Các ion kim loại như Cu, Cd, Pb, Ag, Hg,..
- Các dung dịch acid, bazơ
- Các dung dịch có chứa các thành phần thuốc thử hũu cơ như Phenolphtalein, murexide, methyl cam,..
BẢNG 21: Hóa chất thải độc tính trong PTN
Tên Tính độc
KCN Gây độc cấp tính
Methyl xanh (C16H18N3CIS) Độc khi tiếp xúc
Cadimi Gây ung thư
Phenolphtalein Gây ung thư Thủy ngân và muối thủy
ngân
Nồng độ gây độc 0,005 mg/l
Pb Nồng độ gây độc 0.18
mg/l
Theo những kết quả khảo sát cho thấy hiện trạng phát sinh PTN như sau : 5.2.1 Nước thải
- Các dung dịch, mẫu thử sau quá trình thí nghiệm chưa được thu gom, tiến hành pha loãng theo đúng nguyên tắc mà chỉ pha loãng qua quá trình súc rửa dụng cụ rồi thải thẳng vào hệ thống cống.
- Một số dung dịch thí nghiệm trong chỉ tiêu phân tích khí thải có chứa thuỷ ngân được thu gom riêng trong xô nhưng không được an toàn.
- Nước thải chứa các thành phần sinh học sau các bài thí nghiệm vi sinh được thải thẳng trực tiếp vào hệ thống cống mà chưa qua khâu khử trùng diệt khuẩn.