Trẻ em và việc sử dụng các thiết bị công nghệ (ti vi, điện thoại, máy tính,…)

Một phần của tài liệu BÀI 1+2 VĂN 7 đã SỬA (1) (1) (Trang 41 - 46)

Ngữ văn 7

Xã hội phát triển, những thiết bị điện tử công nghệ như: ti vi, điện thoại, máy tính,..đang ngày càng trở nên phổ biến hơn. Ngay lập tức, chúng trở nên hấp dẫn và thu hút, đặc biệt với học sinh. Vấn đề này đang gây lo lắng cho không ít gia đình.

Trong các gia đình hiện nay, những hình ảnh xuất hiện khá phổ biến đó là các bạn học sinh thường dán mắt vào màn hình ti vi hoặc cặp kè bên người chiếc điện thoại, chiếc máy tính để học hoặc chơi game, xem phim, ảnh…Theo một nghiên cứu có từ năm 2009 của tổ chức Kaiser Family Foundation, trẻ từ 8-18 tuổi đang tiếp xúc với các phương tiện truyền thông kỹ thuật số trung bình 7,5 tiếng/ngày. Trong khi đó, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ thì lại khuyến cáo thời gian nhìn vào màn hình trong một ngày không nên kéo dài quá 2 tiếng. Nguyên nhân là do dịch bệnh kéo dài, học sinh phải học trực tuyến, hoặc bố mẹ bận mải công việc nên thiếu kiểm soát. Nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là do chính bản thân các bạn chưa ý thức hết những tác động mà các thiết bị công nghệ mang lại.

Tiếp cận quá sớm với các thiết bị công nghệ như vậy mang lại một số lợi ích nhất định như giúp các bạn học sinh cập nhật thông tin, học trực tuyến trong những ngày dịch bệnh không thể đến trường…Nhưng chúng cũng sẽ gây ra những tác hại không lường hết. Điều lo ngại nhất là học sinh đã tiếp cận với những nội dung xấu mà người lớn không thể biết. Dùng điện thoại, máy tính quá nhiều sẽ còn gây hại đến sức khỏe và gây ra nhiều bệnh như cận thị, trầm cảm, ngại giao tiếp và những bệnh liên quan đến não, giảm khả năng tưởng tượng và sáng tạo…

Chính vì vậy, ngoài thời gian sử dụng thiết bị để học, các bạn cần giới hạn thời gian sử dụng. Các bậc phụ huynh phải có những công cụ quản lý thời gian của con em mình, đảm bảo sức khoẻ của tốt nhất, tránh gây ảnh hưởng đến cơ thể, đặc biệt là mắt và yếu tố tâm lý. Đồng thời, các bạn cần tích cực rèn thói quen đọc sách hằng ngày; thường xuyên trò chuyện với cha mẹ; tập thể dục thể thao, vui chơi giải trí để tăng cường và cân bằng sức khoẻ.

Ngày nay việc sử dụng các thiết bị công nghệ đã trở nên thực sự hữu ích nhưng chúng ta không nên làm dụng chúng mà chỉ nên sử dụng khi cần thiết, phục vụ cho việc học tập và giải trí lành mạnh.

BÀI 2

Trẻ em với nguyện vọng được người lớn lắng nghe, thấu hiểu

Hiện nay, trẻ em đang được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục ngày càng tốt hơn, nhất là đảm bảo các nhu cầu cơ bản. Tuy nhiên, trong một xã hội phát triển như vũ bão, nhiều vấn nạn đang xâm hại không nhỏ đến trẻ em rất cần người lớn quan tâm, lắng nghe và thấu hiểu.

Tại gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội, trẻ em đang phải đối diện với nhiều vấn đề như: áp lực học tập, thiếu nơi vui chơi giải trí an toàn, bạo lực học đường, sức khỏe dinh dưỡng, phân biệt đối xử, các tệ nạn xã hội... Một số trẻ em ở thành phố vì áp lực học tập mà thiếu thời gian và không gian vui chơi giải trí lành mạnh, nạn bạo lực học đường gia tăng. Ở vùng sâu, vùng xa trẻ em chịu thiệt thòi hơn vì còn thiếu trường học, bữa ăn thiếu chất dinh dưỡng, thiếu nơi sinh hoạt cộng đồng,…Chính những điều đó đã khiến cho một số em trở nên trầm cảm hoặc có những suy nghĩ tiêu cực, sa vào tệ nạn xã hội, nhảy lầu tự tử,…

Nguyên nhân là do nhiều cha mẹ mải làm ăn hoặc thiếu kiến thức, thiếu quan tâm lắng nghe và thấu hiểu con trẻ; bản thân trẻ em còn non nớt chưa đủ nhận thức để vượt

Ngữ văn 7

qua những trở ngại mà bản thân gặp phải. Một số nhà trường đôi khi chỉ chú trọng việc dạy kiến thức trên lớp để đi thi mà chưa thường xuyên đổi mới sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh.

Chính vì vậy, cha mẹ và thầy cô cần tạo môi trường bình đẳng cho mọi trẻ em được tham gia, nói lên tiếng nói của bản thân, giúp trẻ em có những định hướng đúng đắn. Lắng nghe trẻ em nói, thấu hiểu điều trẻ em cần sẽ giúp các em có điều kiện, môi trường tốt nhất để phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngược lại, trẻ em cũng cần chủ động chia sẻ với cha mẹ và thầy cô những vướng mắc mà bản thân gặp phải để cùng nhau tháo gỡ.

Chung tay chăm sóc, bảo vệ trẻ em chính là động lực, nền tảng đưa xã hội ngày càng phát triển. Người lớn kiên trì lắng nghe và tôn trọng ý kiến của trẻ em để đưa ra những giải pháp phù hợp đúng đắn, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em.

BÀI 3

Trẻ em với việc học tập

Học tập là công việc hết sức quan trọng đối với tất cả mọi người, nhất là với trẻ em. Ngày nay, việc học tập càng quan trọng hơn bởi sự tiến bộ của thế giới đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải đầu tư cho việc học của mình nhiều hơn.

Học không bao giờ là thừa hay vô ích. Chỉ khi bạn không học thì bạn mới trở nên vô dụng đối với xã hội. Khi bạn nỗ lực trong học tập, bạn sẽ nhận được kết quả xứng đáng. Khi đó, bạn sẽ tìm thấy niềm vui trong học tập và biết rằng sẽ có kết quả tốt nếu bạn cố gắng. Thành công chỉ đến với người siêng năng và chăm chỉ, không đến với kẻ lười biếng. Trong học tập cũng vậy, hãy cố gắng hết mình, bạn sẽ có được thành công như mong muốn.

Việc học là một hành trình kéo dài suốt đời, mỗi người cần cố gắng học tập không ngừng để nâng cao tri thức. Từ đó, nâng cao khả năng tư duy để có thể tiếp nhận những tác động xung quanh cuộc sống thông qua các giác quan của mình.

Học tập để nắm bắt cơ hội, tự tạo ra hạnh phúc của riêng mình. Học tập để hiểu biết hơn, từ đó vun đắp lòng yêu thương, học cách sẻ chia, tôn trọng xung quanh, đó có lẽ là gia tài lớn nhất mà một nhân cách có được.

Học tập có ý nghĩa rất lớn. Nó giúp ta thêm hiểu biết, để làm người, để lập nghiệp và có một cuộc sống ổn định. Học để có kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình hạnh phúc; góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, xây dựng văn hóa xã hội lành mạnh.

Việc học không chỉ quan trọng đối với cha mẹ mà còn được xã hội đặc biệt quan tâm, hãy biết trách nhiệm của mình để không ngừng học hỏi phấn đấu cho cuộc sống tốt đẹp sau này. Hãy cố gắng học tập chăm chỉ, rèn luyện bản thân để mang lại thành công trong tương lai. Muốn vậy, bạn cần có sức khoẻ tốt, ăn uống hợp lí, làm việc có kế hoạch, có mục tiêu rõ ràng để kiểm soát thời gian một cách chủ động đồng thời phải nghiêm túc và nghiêm khắc với bản thân thì bạn mới mong thực sự tiến bộ, bài chưa xong bạn bè rủ đi chơi cũng cần biết từ chối…

BÀI 4

Bạo hành trẻ em (trong gia đình, ngoài xã hội)

Bạo hành trẻ em đang là một trong những vấn đề nhức nhối trong xã hội. Trong những năm gần đây, xã hội thực sự lo lắng về tình trạng xuất hiện ngày càng nhiều những vụ bạo hành trẻ em diễn ra trầm trọng, xảy ra ở nhiều địa điểm như gia đình, nhà

Ngữ văn 7

trường và ngoài xã hội,…Điều đáng buồn trẻ em bị bạo hành cả về thể xác lẫn tinh thần, bị bóc lột sức lao động, bị đánh đập ngược đãi thậm tệ, bị lăng mạ, sỉ nhục,…Đây chính là hồi chuông cảnh tỉnh trong việc bảo vệ trẻ em.

Mới đây nhất vụ bé Vân Anh mười tuổi bị chính cha ruột và mẹ kế đánh đập dã man dẫn đến cái chết thương tâm. Hay một bé gái ba tuổi bị người tình của mẹ đóng mười cái đinh vào đầu dẫn đến tổn thương quá nặng và qua đời. Nhiều em học sinh bị thầy cô chửi mắng, bắt phạt quỳ gối trước cả lớp,…Những hành vi trên đã gây những tổn thương nặng nề về thể chất và tinh thần khiến trẻ trở nên tự ti, trầm cảm, thậm chí nguy hiểm hơn nó đã cướp đi mạng sống của chính các em.

Nguyên nhân của những hiện tượng trên là do áp lực cuộc sống đói nghèo, do nhận thức non kém, do thiếu hiểu biết về quyền trẻ em; cha mẹ li hôn, mắc tệ nạn xã hội, bỏ mặc trẻ nhỏ; các cơ quan pháp luật chưa kịp thời phát hiện và xử lí; các quy định bảo vệ trẻ em chưa có hình thức xử phạt cụ thể và nghiêm khắc,…

Bạo hành trẻ em là hành vi rất đáng lên án và cần được nghiêm trị. Để bảo vệ trẻ em, tránh những hậu quả đáng tiếc do nạn bạo hành gây ra thì các cơ quan pháp luật cần phải nghiêm trị những kẻ bạo hành; tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội; tăng cường trách nhiệm của gia đình, nhà trường và cộng đồng trong việc bảo vệ trẻ em. Mọi người cần sống quan tâm, yêu thương chia sẻ nhiều hơn để tránh những sự việc đau lòng do nạn bạo hành gây ra.

3. HOẠT ĐỘNG: CỦNG CỐ, MỞ RỘNG

a. Mục tiêu: HS vận dụng được các Tri thức ngữ văn và kết quả của phần Đọc để hoàn thành bảng thống kê các tác phẩm đã học; củng cố các yêu cầu cần đạt của toàn bài.

b. Nội dung: HS làm việc cá nhân, cặp đôi, vận dụng kiến thức đã học vào việc hoàn thành các cột trong bảng và phiếu học tập; chia sẻ những trải nghiệm để hiểu thêm tác phẩm văn học; hoàn thành phiếu học tập.

c. Tổ chức thực hiện:

Bài tập 1:

STT Văn bản Đề tài Ấn tượng chung về văn bản

1 Bầy chim chìa vôi

Tuồi thơ và thiên nhiên hoặc hai đứa trẻ và bầy chim chìa vôi

Sức sống kì diệu của bầy chim chìa vôi;

tầm hồn trong sáng, nhân hậu của hai nhân vật Mên và Mon

2 Đi lấy mật

Tuổi thơ và thiên nhiên hoặc đi lấy mật trong rừng u Minh

Vẻ đẹp phong phú, hoang sơ, bí ẩn của rừng u Minh và tâm hồn trong sáng, tinh tế cửa nhân vật An.

3 Ngàn sao làm việc

Tuổi thơ và thiên nhiên hoặc vẻ đẹp của bẩu trời đêm qua con mắt trẻ thơ

Khung cảnh bầu trời đêm trong trẻo, rộn rã, tươi vui và trí tưởng tượng hồn nhiên, phong phú của trẻ thơ

Câu 2: Chủ đề chung của ba văn bản đọc là Bầu trời tuổi thơ. Em thích chi tiết hoặc nhân vật nào trong ba văn bản đó? Hãy cho biết trải nghiệm nào của bản thân giúp em hiểu thêm về chi tiết hoặc nhân vật.

-Có thể lựa chọn các chi tiết tiêu biểu/nhân vật như:

+ Mon lấy trộm cá bống thả ra sông, lo lắng bầy chim chìa vôi bị nước cuốn trôi, bầy chim bay lên, bứt khỏi dòng nước…/nhân vật Mon hoặc Mên (Bầy chim chìa vôi);

Ngữ văn 7

+ Tía nuôi chỉ nghe tiếng thở mà biết An mệt, cảnh rừng U Minh,…/nhân vật tía, má nuôi, An, Cò (Đi lấy mật);

+ Cảnh chiều tàn, trâu ăn no bụng trở về nhà; ngàn sao lấp lánh làm việc trong đêm,…

(Ngàn sao làm việc).

- HS tự bày tỏ trải nghiệm giúp hiểu thêm về các chi tiết, nhân vật mà mình thích.

- Gợi ý:

- Trong tất cả các nhân vật qua các tác phẩm của chủ đề Bầu trời tuổi thơ thì em có ấn tượng nhất với cậu bé Mon. Sở dĩ em có ấn tượng nhất với cậu bé là bởi vì tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu động vật của cậu bé. Hơn nữa, trải nghiệm một lần cứu tổ chim cũng đã khiến em hiểu được hơn tâm trạng và tình cảm của cậu bé Mon dành cho những chú chim chìa vôi. Đó là vào một lần nghe trái cây ngọt dần mà em đã bước ra vườn. Đi qua cây nhãn em đột nhiên thấy một tổ trứng chim đang sắp rơi xuống đất. “Nếu rơi thì chúng sẽ vỡ mất”, “Nhưng cao thế này mình trèo lên sao được đây?” hàng loạt những câu hỏi cứ thế xuất hiện trong suy nghĩ của em. Em đã phải đấu tranh tâm hồn mãi mới dám trèo lên cây cao để chỉnh lại chiếc tổ chim cho ngay ngắn. Chẳng phải việc gì quá to tát nhưng em cảm thấy rất vui và hạnh phúc

Câu 3

Trong chương trình Ngữ văn 6, em đặc biệt yêu thích truyện “Bức tranh của em gái tôi”

a. Đề tài của truyện: tình cảm gia đình

b. Các nhân vật trong truyện: nhân vật “tôi” - người anh, Kiều Phương - người em, bố mẹ của hai anh em, bé Quỳnh, chú Tiến Lê.

- Nhân vật chính của truyện là nhân vật “tôi” - người anh. Đây là nhân vật có đặc điểm tính cách vô cùng đặc biệt. Ban đầu, tác giả thể hiện nhân vật người anh là người hay mắng mỏ em gái khi em nghịch ngợm và đố kị khi cô bé có tài năng hội họa được mọi người khen ngợi. Sau đó, tính cách của nhân vật này được bộc lộ là một người anh yêu thương em khi vỡ òa hạnh phúc, ăn năn hối lỗi trước tình cảm ruột thịt.

c. Các sự việc tiêu biểu của cốt truyện:

+ Kiều Phương là một cô bé hay lục lọi đồ và thường bôi bẩn lên mặt, cô bé có sở thích vẽ tranh

+ Khi mọi người phát hiện ra tài năng hội họa của Kiều Phương, người anh tỏ ra ghen tị và xa lánh

+ Kiều Phương đạt giải nhất cuộc thi vẽ tranh quốc tế với bức vẽ “Anh trai tôi”, người anh nhận ra lòng nhân hậu của em gái và hối lỗi về bản thân mình.

- Tóm tắt:

Kiều Phương là cô gái hay lục lọi đồ và thường bôi bẩn lên mặt. Cô bé có sở thích vẽ tranh nên thường bí mật pha chế màu và vẽ. Khi mọi người phát hiện ra Kiều Phương có tài năng hội họa thì người anh lúc này tỏ ra ghen tị và xa lánh em. Kiều Phương đạt giải nhất tại trại thi vẽ tranh quốc tế với bức vẽ “Anh trai tôi”, lúc này người anh trai mới nhận ra tấm lòng nhân hậu của em và hối lỗi về bản thân mình

Đọc văn bản thực hành đọc: “Ngôi nhà trên cây” SGK/33 4. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC

- Hoàn thành phần củng cố, mở rộng vào vở thực hành Ngữ văn/16,17 - Thực hành đọc: Văn bản “Ngôi nhà trên cây” SGK/33.

- Đọc tri thức ngữ văn SGK/39, tìm hiểu một số hình thức của thơ bốn chữ và thơ năm chữ.

Ngữ văn 7

- Đọc, trả lời câu hỏi sau đọc văn bản 1: Đồng dao mùa xuân – Nguyễn Khoa Điềm.

- Bài tập 1-4 Vở thực hành ngữ văn trang 19, 20.

Ngày soạn:

Một phần của tài liệu BÀI 1+2 VĂN 7 đã SỬA (1) (1) (Trang 41 - 46)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(94 trang)
w