Khái niệm, vai trò, và những vấn đề cơ bản của chuỗi cung ứng và

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng (logistic) (Trang 43 - 55)

TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ LOGISTICS

1.2. Khái niệm, vai trò, và những vấn đề cơ bản của chuỗi cung ứng và

1.2.1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.2.1.1. Khái niệm về chuỗi cung ứng

Cạnh tranh thành công trong môi trường kinh doanh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng nhƣ khách hàng của mình. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp khi đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng cần phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quản sản phẩm hoàn thành và những điều mà người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng thực sự yêu cầu. Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tƣ, và tập trung nhiều vào quản trị chuỗi cung ứng. Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trong công nghệ thông tin và vận tải nhƣ công nghệ di động, Internet kết nối vạn vật và giao hàng chặng cuối đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng tích hợp và những kỹ thuật để quản lý nó.

Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu đƣợc mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận đƣợc sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó đƣợc vận chuyển nhà máy sản xuất gốc (OEM – Original Equipment Manufacturer) để sản xuất và lắp ráp thành thành phẩm cuối cùng, đƣa đến nhà kho của các trung gian phân hối và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau giữa các đối tƣợng hữu quan trong chuỗi cung ứng.

Vậy chuỗi cung ứng là gì? Ganeshan và Harisson (1995) đã đề cập ―chuỗi cung ứng là mạng lưới các nhà xưởng và cơ sở phân phối thực thiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, sử dụng những vật liệu này để sản xuất ra bán thành phẩm và thành phẩm, đồng thời, phân phối những thành phẩm này đến khách hàng‖.

Hình 1.4: Cấu trúc chuỗi cung ứng

9 Theo Coyle (2009), chuỗi

cung ứng có thể coi là chuỗi hoạt động tích hợp của các doanh nghiệp chia sẻ thông tin và phối hợp thực hiện các hoạt động vật lý để đảm bảo luồng hàng hóa, dịch vụ, thông tin cùng tiền mặt luân chuyển thông suốt. Theo Chopra Sunil và Peter Meindl (2001), chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó.

Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Những chức năng này bao gồm phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng. Khi nghiên cứu hình 1.4, các doanh nghiệp nằm ở khu vực giữa đƣợc xem nhƣ doanh nghiệp trung tâm. Trong khi doanh nghiệp trung tâm dƣợc giới thiệu ở phần này và ở cuối chương như là doanh nghiệp lắp ráp sản phẩm gốc, nó có thể là bất cứ doanh nghiệp nào tham gia trong chuỗi cung ứng, tùy thuộc vào phạm vi tham chiếu của nhà quản trị khi xem xét mô hình.

Với quan điểm về chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi hay sự tối ƣu trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp.

Có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu hết các chuỗi cung ứng, và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm cuối cùng cho khách hàng. Họ chính là các nhà cung cấp dịch vụ, chẳng hạn nhƣ các hãng hàng không, hãng tàu biển, và các công ty vận tải đường bộ, các nhà cung cấp hệ thống thông tin, các công ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý và các nhà tƣ vấn. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các doanh Ví dụ, một chuỗi cung ứng bắt đầu với các doanh nghiệp khai thác nguyên vật liệu thô từ đất nhƣ quặng sắt, dầu mỏ, và gỗ – và bán chúng cho các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu. Các doanh nghiệp này, đóng vai trò như người đặt hàng và sau khi nhận các yêu cầu về chi tiết kỹ thuật từ các nhà sản xuất linh kiện, sẽ chuyển hóa nguyên vật liệu này thành các nguyên liệu dùng đƣợc cho các khách hàng này nhƣ tấm thép, nhôm, đồng đỏ, gỗ xẻ... Các nhà sản xuất linh kiện, đáp ứng đơn hàng và yêu cầu từ khách hàng của họ (nhà sản xuất sản phẩm gốc) tiến hành sản xuất và bán linh kiện, chi tiết trung gian nhƣ dây điện, vải, các chi tiết hàn, những chi tiết cần thiết.... Nhà sản xuất sản phẩm gốc nhƣ IBM, General Motors, Hyundai lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm cuối cùng và bán chúng cho người bán sỉ hoặc nhà phân phối và sau đó họ sẽ bán chúng lại cho nhà bán lẻ và nhà bán lẻ bán sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng.

10

nghiệp trong đa số chuỗi cung ứng, vì các dịch vụ này cho phép người mua và người bán giao tiếp một cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục vụ các thị trường xa xôi, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm tiền trong vận tải nội địa và quốc tế, và nói chung cho phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phí thấp nhất có thể. Các hoạt động loại này đƣợc quy về các chức năng của logistics trong chuỗi cung ứng, vấn đề sẽ đƣợc bàn cụ thể hơn ở phần 1.3 trong chương này.

Xem xét khi một khách hàng đi vào hệ thống bán lẻ với 122 siêu thị VinMart và 2.524 siêu thị mini VinMart+ tại 58 tỉnh thành của VinCommerce để mua nước tẩy rửa. Chuỗi cung ứng bắt đầu với khách hàng và nhu cầu về nước tẩy rửa. Giai đoạn kế tiếp của chuỗi cung ứng này là hệ thống bán lẻ siêu thị VinMart và siêu thị miniVinMart+ mà khách hàng có thể ghé đến. Wincommerce lưu trữ tồn kho để phục vụ nhu cầu của khách hàng cho những sản phẩm Wincommerce tự quản lý hoặc đƣợc cung cấp từ một nhà phân phối. Nhà phân phối nhận hàng từ các công ty sản xuất, chẳng hạn nhƣ Unilever. Nhà máy sản xuất của Unilever nhận nguyên vật liệu từ rất nhiều nhà cung cấp khác nhau mà chính những nhà cung cấp này lại nhận hàng từ các nhà cung cấp khác nữa. Ví dụ, nguyên liệu đóng gói bao bì đến công ty bao bì Việt Hƣng trong khi chính công ty này nhận nguyên vật liệu để sản xuất bao bì cho từ các nhà cung cấp khác. Chuỗi cung cấp này đƣợc minh họa ở hình 1.5.

Hình 1.5: Các giai đoạn của chuỗi cung ứng nước tẩy rửa

(Nguồn: Khảo sát chuỗi cung ứng bản lẻ của Vincommerce của nhóm tác giả)

Chuỗi cung ứng liên quan đến dòng thông tin, sản phẩm và tài chính giữa các chủ thể khác nhau. Trong ví dụ trên, Vinmart cung cấp sản phẩm, cũng nhƣ giá cả và sự sẵn sàng về thông tin, cho khách hàng. Khách hàng sẽ trả tiền cho Vinmart. Vinmart sẽ truyền tải dữ liệu bán hàng cũng nhƣ đơn đặt hàng đến nhà kho hoặc nhà phân phối, và họ sẽ chuyển hàng đến cửa hàng. Đổi lại Vinmart sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận đƣợc hàng. Nhà phân phối cũng cung cấp thông tin về giá cả và gửi lịch trình giao hàng cho Vinmart. Dòng thông tin, nguyên vật liệu và tài chính sẽ luân chuyển trong toàn chuỗi cung ứng.

11 Những ví dụ này minh họa

rằng khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗi cung ứng.

Mục đích then chốt cho sự hiện hữu của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là để thỏa mãn nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó. Các hoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ và nhận hàng. Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, đến nhà phân phối, đến nhà bán lẻ, đến

khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng. Điều quan trọng là dòng thông tin, sản phẩm và tài chính chạy dọc cả hai hướng của chuỗi cung ứng này.

Vì vậy, trong giáo trình khái niệm chuỗi cung ứng đƣợc định nghĩa ―là một hệ thống bao gồm tất cả các tổ chức, con người, công nghệ, các hoạt động, thông tin và nguồn lực tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp trong việc đưa hàng hóa/dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng cuối cùng”

1.2.1.2. Khái niệm về Quản trị chuỗi cung ứng

Quản trị chuỗi cung ứng vừa là một nghệ thuật vừa là một khoa học. Ngày nay, có rất nhiều ứng dụng và mô hình khoa học đƣợc sử dụng trong quản trị chuỗi cung ứng nhƣ dự báo, mô hình hóa hay mô phỏng thực tế và mô phỏng tối ƣu. Những mô hình này giúp cho việc quản trị chuỗi cung ứng lường trước rủi ro, vì vậy ít thách thức hơn.

Quản trị chuỗi cung ứng cũng là một ―nghệ thuật‖ vì môi trường liên tục thay đổi và phức tạp của nền kinh tế thế giới đòi hỏi sự hợp tác và chia sẻ trong chuỗi cung ứng. Sự quản trị các mối quan hệ để tạo ra sự hợp tác và chia sẻ này liên quan đến các kỹ năng quyết định ngắn hạn và dài hạn là chìa khóa để đổi mới và quản lý thành công.

Trước khi thảo luận và phân tích sau hơn về quản trị chuỗi cung ứng, có thể thấy rằng có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng.

Theo Viện quản trị cung ứng (Mỹ) mô tả quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực Ví dụ, khách hàng mua máy tính Dell trực tuyến.

Trang web của công ty Dell sẽ nhận đơn đặt hàng của khách hàng, và truyền thông tin tới nhà máy lắp ráp của Dell, và tất cả nhà cung cấp của Dell.

Trang web cung cấp cho khách hàng thông tin về sản phẩm, chủng loại sản phẩm và tính sẵn sàng của sản phẩm. Khách hàng khi truy cập vào trang web, tìm hiểu thông tin về sản phẩm, giá cả và thực hiện việc đặt hàng đi kèm với thủ tục và phương thức thanh toán qua mạng. Sau đó khách hàng sẽ trở lại trang web để kiểm tra tình trạng của đơn hàng. Các giai đoạn sâu hơn trong chuỗi cung cấp sử dụng thông tin từ đơn hàng của khách hàng để đáp ứng yêu cầu. Tiến trình liên quan đến dòng thông tin bổ sung về sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau của chuỗi cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng.

12

sự của khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ là then chốt cho việc quản trị chuỗi cung ứng thành công.

Theo Hội đồng chuỗi cung ứng (Mỹ) thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.

Theo TS. Hau Lee và Corey Billington cho rằng quản trị chuỗi cung ứng là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối.

Tính nhất quán thể hiện trong các định nghĩa này đó chính là ý tưởng của sự phối hợp và chia sẻ các hoạt động liên quan đến tạo ra sản phẩm/dịch vụ trong số các thành viên của chuỗi cung ứng để cải thiện năng suất hoạt động, chất lƣợng, và dịch vụ khách hàng nhằm đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh bền vững cho tất cả các doanh nghiệp liên quan đến việc việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Vì thế, để quản trị thành công chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp phải làm việc với nhau bằng cách chia sẻ thông tin về những điều liên quan chẳng hạn nhƣ dự báo nhu cầu; các kế hoạch sản xuất; những thay đổi về công suất; các chiến lƣợc marketing mới; sự phát triển mới sản phẩm và dịch vụ; sự phát triển công nghệ mới; các kế hoạch thu mua; ngày giao hàng và bất kỳ điều gì tác động đến các kế hoạch phân phối, sản xuất và thu mua.

Điểm khác biệt chính là các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng hoàn toàn tự do trong việc quyết định thâm nhập hoặc rời khỏi mối quan hệ chuỗi nếu quan hệ này không còn đem lại lợi ích cho họ. Ví dụ, khi một nguyên liệu hoặc sản phẩm cụ thể có giá tăng cung trong ngắn hạn thì một doanh nghiệp có thể nhận thấy sẽ có lợi nếu chọn lựa trong số nhà cung ứng một doanh nghiệp thích hợp nhằm đảm bảo nguồn cung liên tục với giá cả hợp lý cho chi tiết khan hiếm này. Việc cân nhắc này có thể có lợi cho cả đôi bên dẫn đến cơ hội kinh doanh sản phẩm mới trong tương lai; và việc cung ứng tiếp tục trong dài hạn với mức giá ổn định cho người mua. Sau đó, khi đối thủ cạnh tranh mới bắt đầu sản xuất sản phẩm khan hiếm hoặc khi nhu cầu sụt giảm, nhà cung cấp có thể không đƣợc các doanh nghiệp mua đánh giá cao; thay vào đó, doanh nghiệp có thể nhận thấy sẽ có lợi hơn trong việc thương lượng với người mua tiềm năng khác và sau đó chấm dứt với người mua ban đầu. Thông qua ví dụ này, chúng ta có thể nhận thấy rằng chuỗi cung ứng rất động và linh hoạt và vì thế nảy sinh nhiều vấn đề trong việc quản lý chúng một cách hiệu quả.

Quản trị chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc định vị các tổ chức theo cách thức giúp cho tất cả các thành viên trong chuỗi đều đƣợc lợi. Vì thế, quản trị chuỗi cung ứng một cách hiệu quả lệ thuộc rất lớn vào mức độ tin tưởng, sự hợp tác, sự cộng tác và thông tin một cách trung thực và chính xác. Các nhà quản trị phụ trách thu mua, sản xuất, logistics và vận tải không những đƣợc trang bị những kiến thức cần thiết về các

13

chức năng chuỗi cung ứng quan trọng mà còn phải đánh giá và am hiểu mức độ tương tác và ảnh hưởng của các chức năng này đến toàn chuỗi cung ứng.

Trong giáo trình này, Quản trị chuỗi cung ứng đƣợc định nghĩa “là sự quản trị một mạng lưới các mối quan hệ trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp có phụ thuộc lẫn nhau bao gồm các nhà cung cấp nguyên liệu, thu mua, cơ sở sản xuất, logistics, marketing và các hệ thống liên quan khác tạo điều kiện cho dòng chảy xu i và ngược của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nhà sản xuất ban đầu đến khách hàng cuối cùng với mục tiêu tăng thêm giá trị, tối đa hóa lợi nhuận và đạt được sự hài lòng của khách hàng”

1.2.2. Vai trò của chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng đóng vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp cũng nhƣ đối với nền kinh tế nói chung. Với các công ty, chuỗi cung ứng có vai trò không thể phủ nhận, bởi nó giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ đó có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ƣu hóa quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ mà chuỗi cung ứng có thể giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lƣợng hàng hóa, dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, quản trị chuỗi cung ứng còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng, đặc biệt là marketing hỗn hợp. Chính chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt trong việc đƣa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm cần thiết. Trong một doanh nghiệp sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền cung ứng: thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ; thứ hai là bản thân chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật liệu và chính quá trình sản xuất; thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần nữa hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ. Trong dây chuyền cung ứng ba nhân tố này, quản trị chuỗi cung ứng sẽ điều phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất. Đây là những công việc đòi hỏi tính dữ liệu chính xác về hoạt động tại các nhà máy, nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất.

Khi nói đến chuỗi cung ứng, hầu hết mọi người sẽ liên tưởng đến chuỗi cung ứng trong khuôn khổ doanh nghiệp, nhƣng trên thực tế là chúng ta đang sống trong một chuỗi cung ứng khổng lồ có phạm vi toàn cầu. Những gì con người tiêu dùng, sinh hoạt hằng ngày đều nằm trong một chuỗi cung ứng nhất định, chẳng hạn nhƣ thực phẩm, xăng dầu hay mặt hàng nhựa đều có chuỗi cung ứng riêng. Các chuỗi cung ứng khác nhau này lại có mối tác động qua lại lẫn nhau, ví dụ nhƣ chuỗi cung ứng xăng dầu có biến động do chiến tranh sẽ dẫn đến nguồn cung xăng dầu bị ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến giá cước vận tải và gián tiếp đến giá cả các sản phẩm/dịch vụ khác.

Qua đó, biến động này gián tiếp có thể gây ảnh hưởng lên các hoạt động kinh tế khác.

Vì thế vai trò của chuỗi cung ứng với nền kinh tế nói chung rất quan trọng khi chuỗi

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng (logistic) (Trang 43 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(405 trang)