TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ LOGISTICS
1.3. Khái niệm, vai trò, hoạt động của logistics trong chuỗi cung ứng
1.3.1.1. Lịch sử phát triển và khái niệm logistics
Logistics là một thành phần không thể thiếu của chuỗi cung ứng. Quan điểm cho rằng ―Logistics tốt là sức mạnh kinh doanh‖ khá phù hợp trong thời đại hiện nay vì logistics giúp kết nối và xây dựng lòng trung thành của khách hàng. Nếu một doanh nghiệp không thể đƣa sản phẩm của mình đến tay khách hàng một cách kịp thời, thì doanh nghiệp đó sẽ không tồn tại đƣợc lâu. Điều này không có nghĩa là sản phẩm chất lƣợng và marketing hiệu quả là không quan trọng, nhƣng chúng phải đƣợc kết hợp với hệ thống logistics hiệu quả để đạt đƣợc thành công lâu dài và khả năng phát triển của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, điều quan trọng là phải xác định rõ quan điểm về logistics và phân định rõ ràng hơn mối quan hệ giữa logistics và các chức năng khác, cũng nhƣ giữa logistics và chuỗi cung ứng.
Trên thế giới, thuật ngữ logistics đã đƣợc công chúng nhận thức rộng rãi hơn nhiều vào những năm 90. Trong hơn 30 năm qua, những bản tin trên truyền hình, đài phát thanh và báo in đã ca ngợi tầm quan trọng của logistics. Các công ty vận tải lớn
21
thường gọi các doanh nghiệp của họ là các công ty logistics và nhấn mạnh tầm quan trọng của dịch vụ của họ đối với thành công chung của ngành logistics và của nền kinh tế.
Hiện có rất nhiều định nghĩa về logistics xuất phát từ các quan điểm khác nhau, tuy nhiên, logistics cần đƣợc hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Logistics có nguồn gốc từ quân đội, vốn từ lâu đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng của hoạt động logistics đối với quốc phòng. Khái niệm logistics xuất phát từ trong quân đội thường được hiểu là ―hậu cần‖ quân đội bao gồm công việc cung ứng hàng hóa (lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thiết bị, súng ống, đạn dược) cũng như con người (các đội quân phục vụ chiến đấu). Thuật ngữ logistics đã trở thành một phần của từ điển quân sự vào thế kỷ thứ mười tám ở Châu Âu. Sĩ quan logistics hay còn gọi là sỹ quan hậu cần chịu trách nhiệm đóng gói và chia nhỏ các khẩu phần quân đội cũng nhƣ dự trữ các kho tiếp liệu.
Trên thế giới, khái niệm logistics bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu liên quan đến kinh doanh vào những năm 1960 dưới cái tên là phân phối vật chất, tập trung vào khía cạnh đầu ra của hệ thống logistics (nhà máy đến thị trường). Trong những năm 1960, logistics trong quân đội bắt đầu tập trung vào các khía cạnh kỹ thuật của logistics - độ tin cậy, khả năng bảo trì, điều chỉnh, quản lý, quản lý vòng đời và sắp tới - với việc tăng cường mô hình hóa phân tích định lượng. Ngược lại, các ứng dụng kinh doanh hoặc thương mại thường tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng tiêu dùng không bền liên quan đến việc marketing và phân phối vật chất của thành phẩm. Logistics liên quan đến kỹ thuật, nhƣ đƣợc quân đội thực hiện, đã thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp vốn phải đƣợc bảo trì/bảo dƣỡng với các bộ phận sửa chữa trong suốt vòng đời của sản phẩm. Ví dụ, các nhà sản xuất máy móc hạng nặng, chẳng hạn nhƣ Komatsu, đã phát triển hệ thống logistics nổi tiếng thế giới để cung cấp phụ tùng thay thế để sửa chữa và bảo dƣỡng xe của họ.
Trong suốt những năm 70 và 80, lĩnh vực kinh doanh trên thế giới tiếp cận logistics và phát triển thành logistics cung ứng (phục vụ cho quá trính cung ứng và quản lý nguyên vật liệu phục vụ sản xuất) và logistics phân phối (phục vụ cho việc phân phối thành phẩm từ nhà máy đến các đơn vị phân phối, đến tay khách hàng cuối cùng để hỗ trợ cho hoạt động bán hàng). Sau đó đến những năm 90, lĩnh vực kinh doanh đã nhìn nhận logistics trong bối cảnh chuỗi cung và cầu hay còn gọi là chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng yêu cầu các dòng chảy nguyên vật liệu và hàng hóa năng động, hợp tác và phối hợp hơn thông qua hệ thống logistics của tất cả các doanh nghiệp trong mạng lưới, như được chỉ ra trong phần 1.2.
Theo nghĩa rộng, logistics đƣợc hiểu nhƣ là một quá trình tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng, tiêu biểu là các định nghĩa:
- Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành
22
phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn đƣợc các yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm tới người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.
Theo các quan niệm này, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Ở đây có sự phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ nhƣ dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tƣ vấn quản lý … Với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, doanh nghiệp có thể đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
Theo nghĩa hẹp, logistics là hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và logistics là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể.
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233), lần đầu tiên đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics đƣợc chính thức đƣa vào luật, quy định ―Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.‖ Nhƣ vậy, theo nghĩa hẹp, logistics đƣợc định nghĩa trong phạm vi một số hoạt động liên quan tới hàng hóa.
Trong giáo trình này, logistics đƣợc đề cập bao gồm các hệ thống logistics không chỉ trong khu vực doanh nghiệp tƣ nhân mà còn trong khu vực công/chính phủ và các khu vực phi lợi nhuận. Ngoài các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp dịch vụ nhƣ ngân hàng, bệnh viện, nhà hàng và khách sạn đều phải thực hiện hoạt động logistics của mình và có những thách thức và vấn đề về logistics riêng. Do đó, có nhiều cách gọi khác nhau về logistics do các quan điểm khác nhau (Bảng 1.1):
Bảng 1.1: Những định nghĩa về logistics theo các quan điểm khác nhau
Quan điểm Định nghĩa
Hàng tồn kho Quản lí nguyên vật liệu đang dịch chuyển và ở trong kho
Khách hàng Nhận đúng sản phẩm, đến đúng khách hàng, đúng số lƣợng, đúng tình trạng, đúng nơi, đúng lúc và với chi phí phù hợp (đƣợc gọi là
―Logistics 7R‖)
Theo từ điển Nhánh của ngành khoa học quân sự liên quan đến việc mua sắm, bảo dưỡng và vận chuyển vật chất, nhân sự và phương tiện
Hiệp hội
Logistics Quốc tế
Nghệ thuật và khoa học của các hoạt động quản lý và kỹ thuật liên quan đến các yêu cầu, thiết kế, cung cấp và duy trì các nguồn lực để hỗ trợ các mục tiêu, kế hoạch và hoạt động
23
Quan điểm Định nghĩa
Tiện ích/Giá trị Cung cấp thời gian và địa điểm tiện ích/giá trị của vật liệu và sản phẩm để hỗ trợ các mục tiêu của tổ chức
Hội đồng chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng
Đó là một phần của quy trình chuỗi cung ứng liên quan tới lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng chảy và lưu trữ hiệu quả của hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng
Hỗ trợ thành phần
Quản lý cung ứng cho nhà máy (Logistics đầu vào) và quản lý phân phối cho khách hàng của công ty (Logistics đầu ra)
Nguồn: Stephen H. Russell, “Lý thuyết chung về thực hành logistics”, Tạp chí Logistics của không quân 24, số. 4 (2000): 15.
Nhƣ vậy, một số khái niệm về logistics đƣợc đƣa ra căn cứ vào góc độ nghiên cứu, ngành nghề và lĩnh vực hoạt động. Giáo trình đề xuất cách tiếp cận logistics theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp và đồng thời trên cả hai góc độ vĩ mô và vi mô, và coi logistics nhƣ là một khoa học và logistics nhƣ là ngành dịch vụ của nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, logistics trong giáo trình này được định nghĩa là quá trình tối ưu hóa vị trí, lưu trữ, và chu chuyển (xuôi, ngƣợc) các dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó giúp doanh nghiệp tối ƣu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần làm giảm chi phí logistics trong toàn nền kinh tế; nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường hội nhập kinh tế.
1.3.1.2. Ph n loại về logistics
Về phạm vi, logistics có thể chỉ bao gồm các hoạt động trong nội bộ một doanh nghiệp, hoặc các hoạt động giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác (doanh nghiệp đối tác, khách hàng cá nhân). Có hoạt động logistics chỉ diễn ra trong một nhà máy, một khu công nghiệp hay từ tỉnh này sang tỉnh khác, có hoạt động mang tính quốc tế, khởi đầu từ một châu lục này và kết thúc ở một châu lục khác. Về loại hình, có doanh nghiệp tự cung (doanh nghiệp tự cung cấp dịch vụ logistics cho chính mình), hoặc doanh nghiệp dịch vụ (doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ logistics cho doanh nghiệp khác). Một số cách phân loại sẽ được trình bày ở phần dưới đây
a) Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
Trong thế kỷ 21, logistics có thể đƣợc phân loại theo lĩnh vực hoạt động nhƣ sau:
Logistics kinh doanh (Business logistics) là khái niệm chỉ hoạt động logistics của các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trong chuỗi cung ứng bao gồm lên kế hoạch;
tiến hành; kiểm soát dòng chảy và hoạt động lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan dưới góc độ sử dụng hay tiêu thụ một cách hiệu quả nhằm mục đích thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Tại đây các hoạt động logistics có vai trò là chức năng hỗ trợ cho các quá trình kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp đạt mục tiêu. Tương đương như các chức năng tài chính, marketing, nhân sự … Các doanh nghiệp phải
24
triển khai các hoạt động logistics dựa trên hoạt động kinh doanh chính của mình, do đó logistics không phải là chức năng kinh doanh cốt lõi. Logsitics kinh doanh có thể chia thành logistics dành cho những hàng hóa thông thường (hàng tiêu dùng nhanh, dệt may, da giày, đồ gỗ…) và logistics dành cho những ngành hàng chuyên biệt (nông sản, thủy sản, hóa chất, nhiên liệu, hàng nguy hiểm, hàng dự án...)
Logistics dịch vụ (Service logistics) là khái niệm nói đến việc mua bán, sáp nhập, lập kế hoạch và quản lý các cơ sở vật chất /tài sản, nhân sự và vật liệu để hỗ trợ và duy trì hoạt động dịch vụ hoặc kinh doanh, thường chỉ các sản phẩm dịch vụ do các doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ cung cấp nhƣ các dịch vụ đào tạo, dịch vụ du lịch, dịch vụ y tế, dịch vụ khách sạn…. Các dịch vụ này có thể là đơn nhất hoặc trọn gói. Ví dụ, các công ty logistics tiến hành các hoạt động tiếp nhận yêu cầu logistics từ các khách hàng, sau đó lập chương trình và kế hoạch sử dụng các điều kiện cơ sở vật chất, tài sản, con người, và vật liệu của mình (hoặc đi thuê) để đáp ứng yêu cầu của khách. Họ đƣợc gọi chung là các nhà cung cấp dịch vụ logistics – LSP (logistics service provider)
Logistics quân đội (Military logistics) là việc thiết kế và triển khai các chiến lược và chương trình phối hợp các nguồn lực, trang thiết bị, các phương diện hỗ trợ cho các chiến dịch, các trận đánh hoặc đảm bảo sự vững mạnh cho lực lƣợng quân đội của các quốc gia. Tạo lập sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này.
Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện đƣợc diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp.
b) Phân loại theo quá trình
Dựa trên quá trình nghiệp vụ, có thể phân loại logistics thành các nhóm nhƣ sau:
Logistics phục vụ mua hàng (Procurement logistics): gồm các hoạt động liên quan đến việc tìm kiếm các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp. Mục tiêu chung là hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chi phí thấp.
Logistics hỗ trợ sản xuất (Manufacturing logistics): tập trung vào hoạt động quản trị dòng dự trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất.
Logistics hỗ trợ sản xuất trả lời câu hỏi sản xuất cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ đƣợc tạo ra.
Logistics phân phối hàng hóa (distribution logistics): gồm các nỗ lực cung cấp hàng hóa và các dịch vụ khách hàng. Mục tiêu cơ bản là tạo ra doanh thu qua việc đáp ứng mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lƣợc với chi phí hợp lý.
Nếu căn cứ quá trình vận động vật chất cũng có thể phân logistics thành ba loại:
Logistics đầu vào/cung ứng (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn …) một cách tối ƣu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
25
Logistics đầu ra/phân phối (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Logistics ngƣợc hay còn gọi là Logistics thu hồi (Reverse logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tải chế hoặc xử lý.
c) Phân loại theo mức độ cung cấp dịch vụ
Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics) chỉ hoạt động logistics do người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics.
Logistics bên thứ nhất làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Mức độ thuê ngoài dịch vụ logistics bằng không trong trường hợp này.
Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics) chỉ hoạt động logistics đƣợc cung cấp bởi người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai hay người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, …) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng. Loại hình này bao gồm vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, … Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics): chỉ các dịch vụ logistics trọn gói (bundles of services) do bên cung cấp thay mặt cho chủ hàng tổ chức thực hiện và quản lý. 3PL có khả năng quản lý cả dòng chảy nguyên liệu, hàng hóa, thông tin, giúp khách hàng kiểm soát hiệu quả và hiệu lực một phần hoặc cả dây chuyền cung ứng. Họ là những doanh nghiệp làm dịch vụ giao nhận kho vận, vận tải, chuyển phát nhanh … cung cấp dịch vụ logistics tích hợp theo yêu cầu cụ thể để đáp ứng tốt hơn nhu cầu trao đổi hàng hóa của khách hàng.
Logistics bên thứ tƣ (4PL – Fourth Party Logistics): còn gọi là logistics chuỗi cung ứng hay nhà cung cấp logistics chủ đạo (Lead party logistics – LPL). Đây là doanh nghiệp hợp nhất, gắn kết các nguồn lực và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các doanh nghiệp khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics.
4PL quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức tạp nhƣ quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát, các chức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động logistics. 4PL đƣợc coi nhƣ một điểm liên lạc duy nhất, là nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp tất cả các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốt chuỗi cung ứng nhằm vươn tới thị trường toàn cầu để đạt được lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền. Logistics bên thứ tƣ rất mạnh về kết nối và ứng dụng CNTT. Nhà cung cấp dịch vụ logistics 4PL có thể không có tàu biển, không có xe tải, không có kho hàng,