Bên thứ ba tham gia vào logistics – Quan điểm ngành

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng (logistic) (Trang 84 - 98)

MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG 2

2.3. Bên thứ ba tham gia vào logistics – Quan điểm ngành

Về cơ bản, đơn vị cung cấp logistics bên thứ ba (3PLPs – Third Party Logistics Providers) có thể đƣợc định nghĩa là nhà cung cấp bên ngoài thực hiện tất cả hoặc một phần chức năng logistics cho doanh nghiệp đi thuê ngoài dịch vụ này. Định nghĩa này có chủ đích rộng và nhằm bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ nhƣ vận tải, kho bãi, phân phối, dịch vụ tài chính...Trong số này, nhiều hoạt động logistics đƣợc "tích hợp"

hoặc đƣợc quản lý cùng nhau và chúng cung cấp "giải pháp" tổng thể cho các vấn đề logistics/chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.

Đã có sự gia tăng đáng kể số lƣợng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics với các cấp độ khác nhau cũng như xu hướng thuê ngoài các công ty này ở nhiều khu vực trên thế giới. Tỷ lệ phần trăm sử dụng các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 trung bình trên thế giới vẫn duy trì ở mức ổn định khoảng 50 – 70% ở nhiều khu vực.

Trong khi nhiều công ty trong số này là những doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ logistics có quy mô vừa và nhỏ, thích hợp với một ngành công nghiệp, thì cũng đã xuất hiện nhiều công ty có quy mô lớn hơn cung cấp giải pháp toàn cầu và khu vực. Ví dụ, trên thế giới có thể kể đến các tên tuổi nhƣ giải DHL, giải pháp chuỗi cung ứng của UPS, dịch vụ chuỗi cung ứng FedEx,...Tại Việt Nam, có thể kể đến các giải pháp logistics và chuỗi cung ứng của Transimex, Gemadept, Indo Trần, Bee Logistics…

50

Mặc dù trên thị trường hiện nay, các nhà cung cấp 3PL luôn quảng cáo rằng họ có khả năng cung cấp rất nhiều loại dịch vụ logistics khác nhau cho khách hàng nhƣng chúng ta vẫn nên có một sự phân loại cho các bên thứ ba này và chia ra thành các nhóm bao gồm: công ty có nền vận tải, có nền kho bãi/phân phối, có nền đại lý giao nhận (forwarder), có nền chuyển phát và

có nền thông tin nhƣ sau:

Công ty nền vận tải

Nói đến các nhà cung cấp nền vận tải, chúng ta có thể nghĩ đến nhà cung cấp giải pháp chuỗi cung ứng nhƣ Công ty vận tải dầu khí, Công ty vận tải Phương Anh, Viet Nam Post, DHL (Việt Nam), VIMC…Các công ty này đều có nhiều công ty con và chi nhánh ở nhiều khu vực tên toàn quốc. Phần lớn dịch vụ do các công ty này cung cấp đƣợc tận dụng ở chỗ họ sử dụng tài sản của họ đầu tƣ như phương tiện vận tải, thiết bị xếp dỡ, kho bãi…. một phần họ có đi thuê lại các công ty khác để mở rộng, cung cấp một loạt các dịch vụ logistics toàn diện hơn. Ngoài ra có một số công ty có quy mô hoạt động lớn đã liên doanh liên kết,

sáp nhật với các công ty có vốn đầu tƣ lớn để phát triển đầu tƣ thêm vào cơ sở hạ tầng vận tải.

Công ty nền kho bãi, phân phối

Theo cách truyền thống, hầu hết các nhà cung cấp dựa trên nền kho bãi/phân phối tồn tại dưới dạng doanh nghiệp kho bãi theo hợp đồng hoặc kho bãi công cộng và sau đó mở rộng thành một công ty với nhiều dịch vụ logistics khác nhau. Các ví dụ cụ thể của loại doanh nghiệp này là công ty Transimex, Công ty Kho vận miền Nam, Công ty Hợp nhất quốc tế…. Dựa vào hoạt động nghề nghiệp truyền thống của họ, các loại tổ chức này đã tham gia vào các hoạt động logistics ví dụ nhƣ quản lý tồn kho, kho bãi, phân phối và nhiều hoạt động khác. Kinh nghiệm chỉ ra rằng các doanh nghiệp có nền cơ sở thiết bị này tìm hướng chuyển tiếp sang dịch vụ logistics tích hợp ít phức tạp hơn nhiều so với các nhà cung cấp có nền vận tải.

Loại hình này cũng có thể bao gồm một số công ty 3PL đã xuất hiện từ các tổ chức tập đoàn logistics lớn hơn. Nổi bật trong số này là Công ty Samsung SDS Logistics, Công ty Logitem, Công ty Kuhn Nagel… Những nhà cung cấp này có kinh nghiệm đáng kể trong việc quản lý các hoạt động logistics của công ty mẹ và do đó, chứng tỏ Ví dụ, Ví dụ Công ty Giao nhận và Vận chuyển Indo Trần nổi lên nhƣ một ―hiện tƣợng mới‖ của ngành logistics khi nắm giữ thị phần lớn tại Việt Nam và hoạt động mạnh mẽ ở khu vực Đông Nam Á.

ITL Corp cung cấp nhiều dịch vụ nhƣ:

vận tải quốc tế, logistics tổng hợp, chuyển phát nhanh, kho bãi… với hệ thống đạt chuẩn quốc tế. Trong khi đó, Symphony International Holdings (Singapore) là tập đoàn đầu tƣ hàng đầu tại khu vực Châu Á.

Tập đoàn Symphony International Holdings đã mua lại 28,57% cổ phần của ITL từ Singapore Post. Ƣớc tính giá trị của thương vụ trong khoảng 42,6 triệu USD và giá trị của công ty sau sáp nhập sẽ ở mức xấp xỉ 150 triệu USD..

51

họ là những nhà cung cấp rất có năng lực trong việc phục vụ các dịch vụ đó cho khách hàng bên ngoài. Mặc dù ý tưởng rằng một công ty 3PL có thể xuất phát từ một tổ chức tập đoàn logistics là một ý tưởng thú vị, nhưng không phải tất cả các việc chuyển đổi này đều thành công về mặt thương mại với tư cách là 3PL.

Công ty nền đại lý giao nhận (Forwarder)

Loại hình này bao gồm các công ty nhƣ Bee Logistics, Công ty Dolphin Sea Air Service, Công ty T&M Forwarding… đã mở rộng vai trò trung gian của họ khi làm đại lý giao nhận và/hoặc công ty môi giới sang mảng rộng hơn của dịch vụ 3PL. Về cơ bản, các công ty này không phải là chủ sở hữu tài sản, rất độc lập và giao dịch với nhiều nhà cung cấp dịch vụ logistics. Họ đã chứng minh đƣợc khả năng trở thành các trung gian đại lý giao nhận kết nối giữa các chủ hàng và các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics khác nhau để hoàn thành tốt các gói dịch vụ logistics đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Công ty nền chuyển phát

Loại hình nhà cung cấp dịch vụ logistics này bao gồm các công ty có nền từ cung cấp dịch vụ chuyển phát ví dụ GHN, GHTK, Viettel Post, Viet Nam Post… Các công ty này cung cấp các dịch vụ giao hàng chặng cuối như chuyển phát thương mại điện tử, chuyển phát nhanh, chuyển phát hỏa tốc, chuyển phát tiết kiệm. Ngoài ra một số công ty trong số này đã chuyển đổi, nâng cấp và gia tăng các dịch vụ logistics khác nhƣ dịch vụ chuyển phát quốc tế, dịch vụ logistics, dịch vụ forwarding và dịch vụ hải quan. Đây cũng là một mô hình phát triển của một số các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3.

Công ty nền thông tin

Hiện tại, với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự gia tăng việc ứng dụng CNTT vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ tích hợp, nhiều công ty cung ứng các giải pháp công nghệ thông tin đã phát triển thế mạnh của mình trong việc cung cấp dịch vụ logistics cho nhiều chủ hàng khác nhau bằng cách kết nối với nhiều đơn vị cung cấp dịch logistics bên thứ hai và bên thứ ba. Từ đó phát triển thành mô hình cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 4 (4PL - Cung cấp Dịch vụ Logistics Thứ tƣ hay Logistics chuỗi phân phối, hay nhà cung cấp logistics chủ đạo- LPL) là người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics.

4PL là việc quản lý và thực hiện các hoạt động Logistics phức tạp nhƣ quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát, các chức năng kiến trúc & tích hợp các hoạt động logistics. 4PL có liên quan với 3PL, đƣợc phát triển trên nền tảng của 3PL nhƣng gồm lĩnh vực hoạt động rộng hơn nhƣ các hoạt động của 3PL, các Dịch vụ Công nghệ thông tin và Quản lý các tiến trình kinh doanh. 4PL đƣợc xem nhƣ điểm liên lạc duy nhất, là nơi để thực hiện việc quản lý, tổng hợp tất cả các nguồn lực và giám sát các

52

chức năng 3PL trong suốt chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lƣợc và các mối quan hệ lâu bền. Ví dụ về công ty sẽ đại diện cho loại hình này trên thế giới có thể kể đến trường hợp Samsung SDS Logistics (Cello Platform), hay ở Việt Nam có thể đến Smartlog (SWM, STM, STX).

2.3.2. Quy m thị trường dịch vụ logistics của bên thứ ba và phạm vi

Cùng với Trung Quốc, Hoa Kỳ là một trong những thị trường logistics bên thứ ba lớn nhất trên thế giới. Tổng doanh thu do ngành 3PL của Hoa Kỳ tạo ra lên tới khoảng 231,5 tỷ đô la Mỹ vào năm 2019. Các dịch vụ 3PL có thể bao gồm dịch vụ vận tải, tích hợp hoạt động, lưu kho, kết nối chéo, quản lý hàng tồn kho, đóng gói và giao nhận hàng hóa. Chi phí vận chuyển thường cao nhất; vào năm 2020, chi phí vận tải ở Hoa Kỳ chỉ lên tới hơn một nghìn tỷ đô la Mỹ, hơn 2/3 tổng chi phí logistics của doanh nghiệp trong năm đó. Theo một cuộc khảo sát toàn cầu giữa các nhà điều hành chuỗi cung ứng và logistics đƣợc thực hiện vào tháng 7 năm 2021, 63,5% chủ hàng đang thuê ngoài các hoạt động kho bãi của họ từ các nhà cung cấp 3PL (Nguồn:

statista.com). Bảng 2.1 giới thiệu một số chủ hàng lớn trên thế giới đƣợc xác định là sử dụng nhiều các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3.

Bảng 2.1: Xếp hạng các doanh nghiệp thuê dịch vụ 3PL

Xếp hạng Chủ hàng Số 3PL sử dụng

1 General Motors 43

2 Daimler Chrysler 32

3 Ford Motor Company, Wal-mart 30

4 Volkswagen 28

5 Hewlett-Packard 26

6 Unilever 24

7 Procter & Gamble 22

8 General Electric 21

9 Siemens 19

10 BMW 17

11 Georgia-Pacific, IBM, Nestle, Royal Philips Electronics, Toyota Motor

16

12 Home Depot, Sara Lee 15

Nguồn: 3PL Market Overview (Stoughton, WI: Armstrong & Associates, Inc.) Đƣợc chỉ ra trong Bảng 2.2 là ƣớc tính về doanh thu của ngành công nghiệp 3PL toàn cầu trong năm 2020 dao động với số tiền đạt 961,8 tỷ đô la Mỹ. Thị trường 3PL Châu Á Thái Bình Dương là thị trường lớn nhất trên toàn thế giới so với khu vực, đạt doanh thu hơn 389 tỷ đô la Mỹ vào năm 2020. Sự kết nối ngày càng mở rộng của nền kinh tế toàn cầu đóng góp to lớn vào mở rộng các dòng doanh thu trên thị trường 3PL.

Năm 2020, DHL Supply Chain & Global Forwarding, Kuehne + Nagel, DB Schenker

53

là ba nhà cung cấp 3PL hàng đầu trên toàn cầu dựa trên tổng doanh thu logistics. Ví dụ, DB Schenker đã tạo ra doanh thu khoảng 20,7 tỷ đô la Mỹ.

Bảng 2.2: Xếp hạng 30 Công ty Logistics Toàn cầu năm 2020 theo doanh thu Xếp hạng Công ty logistics bên thứ 3 (3PL) Tổng doanh thu (Triệu

USD) 1 DHL Supply Chain & Global

Forwarding

28.453

2 Kuehne + Nagel 25.787

3 DB Schenker 20.761

4 Nippon Express 19.347

5 DSV Panalpina 18.269

6 C.H. Robinson 15.490

7 Sinotrans 12.174

8 XPO Logistics 12.107

9 UPS Supply Chain Solutions 11.048

10 Expeditors 10.116

11 J.B. Hunt 9.198

12 GEODIS 9.135

13 CEVA Logistics 7.416

14 Toll Group 7.260

15 CJ Logistics 7.174

16 Maersk Logistics 6.963

17 Kerry Logistics 6.867

18 DACHSER 6.591

19 Hitachi Transport System 6.346

20 Kintetsu World Express 5.750

21 Bolloré Logistics 5.265

54

Xếp hạng Công ty logistics bên thứ 3 (3PL) Tổng doanh thu (Triệu USD)

22 GEFCO 4.464

23 Coyote Logistics 4.280

24 Transportation Insight, LLC/Nolan Transportation Group

4.270

25 Yusen Logistics 4.248

26 Total Quality Logistics 4.138

27 Burris Logistics 4.100

28 Agility 4.018

29 Ryder Supply Chain Solutions 3.774

30 Hub Group 3.646

Nguồn: Amrstrong Associate, INC (9/2021) 2.3.3. Các hoạt động thuê ngoài dịch vụ logistics do bên thứ ba cung cấp

Sử dụng dịch vụ logistics tích hợp 3PL

Việc sử dụng các dịch vụ 3PL gia tăng đáng kể ở các khu vực trên thế giới. Năm 2021, thị trường vận tải và logistics toàn cầu chịu tác động bởi các yếu tố chính gồm:

dịch bệnh Covid19, những bước tiến lớn về công nghệ, biến động thương mại quốc tế, những xu hướng mới trong thương mại điện tử và các yêu cầu mới về bảo vệ môi trường, phòng chống biến đổi khí hậu trong logistics.

Thương mại toàn cầu trở nên khó dự đoán hơn, với tác động đan xen của các FTA thế hệ mới và các rào cản thương mại, các yếu tố bất lợi về địa chính trị… khiến nhiều chủ hàng và các công ty logistics phải liên tục điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của họ.

Căng thẳng thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ thậm chí đã tạo nên một dịch vụ logistics mới là ―chuyển dịch‖ toàn bộ hệ thống nhà xưởng từ Trung Quốc sang các thị trường khác.

Sự phát triển của các nền tảng thương mại và thanh toán điện tử toàn cầu như Alibaba, Amazon và e-Bay, đã cho phép nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa tại các thị trường mới nổi tiếp cận người tiêu dùng trên toàn thế giới bằng cách mở rộng các kênh tiếp thị, hệ thống phân phối và logistics xuyên biên giới của họ. Đồng thời, nhiều công ty đa quốc gia đang tập trung kế hoạch đầu tư phát triển mạng lưới logistics ở các thị trường mới nổi để tận dụng mức tăng chi tiêu của người tiêu dùng, nguồn lực tại chỗ và đáp ứng đúng thị hiếu địa phương.

55

Xu hướng tự động hóa đang làm thay đổi nền sản xuất toàn cầu cũng như hoạt động logistics phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Số hóa nền kinh tế, đổi mới cơ chế hỗ trợ của Chính phủ, văn hóa tiêu dùng, sự phát triển của thương mại điện tử và kinh tế chia sẻ đang giúp logistics liên ngành và xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Năm 2020 - 2021, lĩnh vực logistics toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19. Mặc dù các Chính phủ nỗ lực duy trì dòng chảy hàng hóa và đặc biệt ưu tiên lưu thông các loại hàng hóa thiết yếu, tuy nhiên, do các biện pháp kiểm soát dịch bệnh và nhiều lao động trong lĩnh vực này phải ở nhà, có những thời điểm, toàn bộ hoạt động bị tê liệt, từ vận tải đường bộ đến cảng biển và bị tác động nặng nề nhất là ngành hàng không.

Trong khi một số nơi các hoạt động vận tải, giao nhận gần nhƣ tê liệt vì dịch bệnh, một số phân khúc khác như logistics phục vụ thương mại điện tử lại trở nên quá tải vì số lượng người mua hàng và đơn hàng giao hàng tại nhà tăng đột biến. Trong cả 2 trường hợp, nếu không có sự chuẩn bị tốt và gia tăng số hóa trong các hoạt động logistics, các doanh nghiệp dịch vụ logistics và các khách hàng (chủ hàng của họ) sẽ gặp khó khăn rất lớn để thích nghi với hoàn cảnh mới.

Theo báo cáo nghiên cứu thị trường của Technavio, thị trường logistics bên thứ 3 (3PL) thế giới sẽ tăng trưởng khoảng 76,28 tỷ USD trong giai đoạn 2020-2024, với mức tăng trưởng trung bình 6%/năm. Động lực chính cho tăng trưởng là nhu cầu đối với vận tải đa phương thức. Đặc biệt, những cải tiến về công nghệ và chuyển đổi số càng đƣợc thúc đẩy bởi các thách thức từ dịch bệnh Covid-19 đang thúc đẩy qua trình tự động hóa trong vận chuyển, dịch vụ cảng, kho bãi, vận tải và sẽ trở thành xu hướng chính trong thời gian tới.

Hoạt động Logistics thuê ngoài

Những năm gần đây chứng kiến những thay đổi trên thị trường giao nhận toàn cầu do tác động của các công nghệ mới, đặc biệt là về tự động hóa và ứng dụng của vệ tinh nhân tạo trong hoạt động logistics.

Các tập đoàn lớn nhƣ Amazon, Alibaba, JD.com, Lazada và Flipkart nhanh chóng có những bước tiến mới trong hoạt động giao nhận để đảm bảo chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của mình. Họ một mặt tạo ra nhu cầu cao về dịch vụ thuê ngoài logistics, mặt khác hợp tác với các công ty logistics để làm chủ một số công đoạn quan trọng trong chuỗi cung ứng.

Nhiều hoạt động logistics dự kiến sẽ ƣu tiên hiệu quả hoạt động, với các khoản đầu tƣ vào việc áp dụng công nghệ. Giao nhận vận tải cung cấp các giải pháp trực tuyến sáng tạo trong kết hợp vận chuyển hàng hóa, môi giới tùy chỉnh và giải pháp quản lý vận tải dự kiến sẽ thay đổi phân khúc này và tạo ra sự tương tác tốt hơn với khách hàng. Các dịch vụ logistics được thuê ngoài thường xuyên nhất là những dịch vụ có tính chất hoạt động, giao dịch và lặp lại nhiều hơn. Nhìn vào kết quả trên tất cả các khu vực được nghiên cứu, các dịch vụ thuê ngoài thường xuyên nhất bao gồm vận tải

56

(90%), kho bãi (74%), thông quan hải quan và môi giới (70%), và đại lý giao nhận (54%). Các câu trả lời cho câu hỏi này cung cấp hỗ trợ rằng các dịch vụ đƣợc thuê ngoài ít thường xuyên hơn có xu hướng liên quan đến khách hàng, liên quan đến việc sử dụng công nghệ thông tin và có bản chất chiến lƣợc hơn.

Bảng 2.3: Dịch vụ logistics thuê ngoài

Dịch vụ Bắc

Mỹ

Châu Âu

Mỹ Latin

Châu Á – Thái Bình Dương

Vận tải 83% 95% 90% 95%

Kho bãi 74 74 54 74

Thông quan hải quan và môi giới 74 54 64 84

Đại lý giao nhận 54 54 14 64

Kiểm toán và thanh toán hóa đơn vận chuyển 54 24 14 14

Ghép lô hàng 44 54 34 54

Cross-Docking 34 44 14 34

Logistics ngƣợc 24 44 34 34

Quản trị vận tải 24 34 14 44

Ghi nhãn, Đóng gói, Lắp ráp và trang bị 24 44 24 34 Tƣ vấn chuỗi cung ứng cung cấp bởi 3PL 24 14 14 14

Nhập, xử lý và thực hiện đơn hàng 14 14 14 14

Quản lý đội xe 14 24 34 24

Dịch vụ LLP/ 4PL 14 14 14 4

Dịch vụ khách hàng 4 4 14 14

Nguồn: Eleventh Annual 3PL Study (Georgia Tech và Capgemini LLC)

Quan điểm của những người không phải khách hàng

Để giúp hiểu rõ hơn về những đối tƣợng không sử dụng dịch vụ 3PL, một cuộc khảo sát đã đƣợc thực hiện liên quan đến sự lựa chọn không thuê ngoài của họ. Bảng 2.4 mô tả các câu khảo sát và kết quả. Dựa trên những số liệu này, lý do quan trọng nhất các tổ chức không thuê ngoài dịch vụ logistics là niềm tin rằng logistics là một

"năng lực cốt lõi" tại các tổ chức đó. Các lý do khác bao gồm niềm tin và/hoặc kỳ vọng rằng việc cắt giảm chi phí sẽ không đƣợc thực hiện, quyền kiểm soát đối với (các) chức năng thuê ngoài sẽ giảm đi, các cam kết mức độ dịch vụ sẽ không đƣợc thực hiện và họ có nhiều chuyên môn về logistics hơn các nhà cung cấp 3PL.

Bảng 2.4: Cơ sở lý luận từ đối tƣợng không phải khách hàng thuê ngoài dịch vụ 3PL

Quan điểm Tổng

quan

Bắc

Mỹ Châu Âu Châu Á – Thái Bình Dương Logistics là một năng lực cốt lõi

của công ty 38% 51% 30% 42%

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng (logistic) (Trang 84 - 98)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(405 trang)