Kinh nghiệm phát triển ngành logistics của một số nước trên thế giới

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng (logistic) (Trang 118 - 125)

MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG 3

3.4. Kinh nghiệm phát triển ngành logistics của một số nước trên thế giới

Cảng Sinagpore nằm ở vị trí chiến lƣợc trên các tuyến hàng hải quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Ngay từ năm 2001, Chính phủ Singapore đã thành lập Ủy ban nghiên cứu kinh tế Singapore ERC (Economics Review Committee) nhằm soạn thảo các chiến lƣợc phát triển các ngành kinh tế then chốt của quốc đảo. Chiến lƣợc này đƣợc nhóm nghiên cứu về logistics WGL (Working Group on Logistics) soạn thảo và đề xuất 8 nhóm giải pháp nhằm phát triển cảng Singapore thành một trung tâm logistics toàn cầu nhƣ sau: (1) Duy trì và thúc đẩy năng lực của trung tâm logistics; (2) Phát triển các ngành ―mềm‖ của các ngành dịch vụ vận tải, dịch vụ logistics và phát triển nguồn nhân lực; (3) Phát triển Singapore thành trung tâm logistics về CNTT; (4) Phát triển Singapore thành một trung tâm quản trị chuỗi cung ứng (SCM); (5) Xây dựng trung tâm an toàn; (6) Thiết lập trung tâm vận tải đa phương thức; (7) Thiết lập cơ chế thuế cạnh tranh; (8) Thiết lập cơ quan hàng đầu phối hợp với các hoạt động của chính phủ, hoạt động theo cơ chế one-stop-shop (một điểm dừng) nhằm xúc tiến phát triển logistics. Tám nhóm chiến lƣợc trên đƣợc Chính phủ Singapore tiếp thu triển khai thực hiện đồng bộ và mang lại thành công rất lớn cho ngành logistics Singapore, đặc biệt mang đến vị thế trung tâm logistics toàn cầu cho cảng Singapore nhƣ ngày nay.

Ngành logsitics tại Singapore triệt để sử dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và khai thác cảng, cung cấp dịch vụ với chất lƣợng tốt. Trong quá trình vận

84

hành khai thác cảng biển, Singapore đã chủ động ứng dụng triệt để thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại. Từ năm 1997, cảng Singapore đầu tƣ, lắp đặt và liên tục cải tiến hệ thống thông tin quản lý điều hành cảng. Hệ thống này gồm 4 hệ thống thành phần hỗ trợ nhau đƣợc sử dụng để lập kế hoạch bố trí sử dụng cầu tàu, bến bãi, thiết bị, nhân lực và điều hành toàn bộ công tác bốc dỡ container. Nhờ có hệ thống này mà các hoạt động tại trung tâm logistics Singapore đƣợc thuận tiện và nhanh chóng, giảm thiểu thời gian tiêu tốn tại các khu vực đầu mối chuyển tải container. Bằng việc xây dựng hệ thống này, chất lƣợng và thời gian thực hiện các dịch vụ của Singapore khó có đối tác nào sánh kịp.

Bên cạnh đó, Singapore có bảy khu thương mại tự do (FTZ), sáu trong số đó dành cho hàng hóa vận chuyển đường biển và một cho đường hàng không. Trong các FTZ, PSA Corporation Ltd cung cấp hơn 2 triệu m2 diện tích kho bãi và hàng loạt tiện nghi và dịch vụ cho hoạt động lưu kho và tái xuất hàng hóa.

Về quản lý nhà nước, Chính phủ quản lý, quy hoạch và phát triển hệ thống dịch vụ cảng biển hiệu quả. Trong việc quản lý cảng biển và các dịch vụ cảng biển hiện nay, Singapore áp dụng hai mô hình. Với mô hình quản lý theo kiểu chủ cảng, cơ quan quản lý cảng sở hữu và bảo trì các công trình cảng nhƣng không tham gia vào các dịch vụ tại cảng cũng như khai thác bến. Nói cách khác, cơ quan quản lý cảng là người sở hữu và bảo trì các công trình cảng nhƣng cho khu vực tƣ nhân thuê để thực hiện các dịch vụ tại cảng như bốc xếp, giao nhận, lưu kho hàng hóa. Còn với mô hình thương mại hóa về quản lý cảng, một công ty thương mại sở hữu và tự khai thác các công trình cảng hoặc giao cho một đơn vị khác thuê để khai thác. Trong chính sách cạnh tranh với các cảng trong khu vực, Singapore lấy chất lƣợng dịch vụ làm động lực cho cạnh tranh chứ không phải giảm giá dịch vụ.

Về cơ chế chính sách, để giải quyết bài toán về nguồn vốn cho đầu tƣ cơ sở hạ tầng, Chính phủ Singapore đã phát hành trái phiếu chính phủ để huy động nguồn vốn. Ngoài ra, Chính phủ cũng đưa ra chương trình tiết kiệm bắt buộc đối với tất cả những người lao động Singapore do Quỹ Tiết kiệm trung ƣơng Singapore quản lý (CPF). Quỹ này hoạt động trên cơ sở được tài trợ toàn phần. Sau khi nghỉ hưu, người dân Singapore được hưởng lợi miễn thuế dựa trên những đóng góp trong quá khứ cộng với lãi suất.

Trong thời gian qua, Chính phủ Singapore chủ yếu sử dụng các nguồn vốn trên để đầu tƣ phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng: xây dựng hệ thống cảng trung chuyển, các đường cao tốc hiện đại, sân bay tốt nhất thế giới Changi, các trung tâm logistics cũng nhƣ cơ sở hạ tầng cho các ngành viễn thông, cáp quang hiện đại.

Ngoài ra, Singapore còn thực hiện chiến lƣợc cắt giảm thuế vừa nhằm thúc đẩy kinh tế vĩ mô vừa thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tƣ vào Singapore, tạo nguồn hàng ổn định cho các cảng hoạt động. Mặt khác, chính sách ƣu đãi về thuế quan đã mang về cho Singapore một lƣợng lớn hàng container trung chuyển từ các quốc gia khác trong khu vực.

85 3.4.2. Kinh nghiệm của Đức

Do nằm ngay giữa trung tâm châu Âu, cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển khiến Đức trở thành trung tâm logistics và phân phối lý tưởng của khu vực. Hệ thống giao thông vận tải và phân phối hàng hóa của Đức đƣợc bảo đảm nhờ vào hệ thống giao thông đường bộ lớn nhất châu Âu, bao gồm cả hệ thống đường sắt và đường cao tốc cũng như hệ thống giao thông đường thủy và đường hàng không với nhiều sân bay lớn nhƣ sân bay quốc tế Frankfurt, hệ thống cảng biển và kho vận phục vụ cho ngành vận tải tại Hamburg và Wilhemshaven.

Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho ngành năng lƣợng và viễn thông của Đức cũng đƣợc xếp vào bậc tiên tiến nhất châu Âu. Đức cũng đƣợc coi là một trong số không nhiều quốc gia có chiến lƣợc "kinh tế xanh" đầu tiên trên thế giới và đang nỗ lực để trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới sử dụng 100% năng lượng tái tạo. Với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không cùng nhiều sân bay quốc tế, nhiều cảng biển và kho vận tải thuộc loại lớn nhất châu Âu, kết cấu hạ tầng là lợi thế lớn nhất để Đức củng cố vai trò trọng yếu của dịch vụ hậu cần đối với khu vực.

Doanh thu của ngành logistics Đức luôn vƣợt xa so với doanh thu logistics của Anh và Pháp - hai quốc gia cạnh tranh mạnh trong ngành dịch vụ logistics với Đức ở châu Âu. Tổng doanh thu của ngành dịch vụ hậu cần Đức ngang bằng doanh thu của 3 quốc gia lớn ở châu Âu. Theo đánh giá của Viện Fraunhofer, doanh thu của ngành dịch vụ logistics Đức chiếm 23% (khoảng 730 tỷ Euro) ở Tây Âu. Đức cũng là đối tác thương mại châu Âu lớn nhất của Mỹ, khoảng 2.000 công ty Mỹ hiện đang hoạt động tại Đức và hơn 3.000 công ty Đức đang kinh doanh tại Mỹ. Các công ty của Đức là những nhà cung cấp dịch vụ logistics lớn nhất thế giới. Ngành công nghiệp logistics của Đức trung bình đóng góp tới 7,5% GDP. Trong suốt thập kỷ (2010-2020), dịch vụ logistics Đức luôn đạt mức tăng trưởng bền vững (khoảng 5%), vượt xa các nền kinh tế khác của châu Âu. Riêng ngành giao thông vận tải đóng góp tới 44% doanh thu của thị trường logistics Đức. Dịch vụ kho và vận chuyển hàng hóa đường thủy chiếm 26%, phần còn lại là đóng góp của dịch vụ hành chính, quản lý chuỗi cung cấp và hoạt động gia công, chế biến…

Kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại và những ngành kinh doanh chính đạt hiệu quả cao đã biến Đức trở thành cơ sở logistics hấp dẫn nhất châu Âu. Năm 2018, Trung tâm logistcs rộng 110.000m2 được xây dựng ở phía Nam nước Đức - là một trong hai trung tâm hậu cần chính đƣợc xây dựng mới sau khủng hoảng - đã khẳng định vai trò hàng đầu của Đức tại khu vực châu Âu trong lĩnh vực logistics. Vì vậy, các công ty logsitics toàn cầu đang ngày càng lựa chọn Đức là trung tâm hậu cần, phân phối của châu Âu.

Đức có 250 cảng nội địa đƣợc sử dụng cho ngành logistics bên thứ ba (The Third Party Logistics). Hầu hết (khoảng ắ) trong số 21 khu vực logistics trờn toàn bộ lónh thổ Đức có cảng quốc tế. Trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế

86

giới (WEF) năm 2019, Đức đƣợc đánh giá là quốc gia có kết cấu hạ tầng tốt nhất với mạng lưới đường sắt, đường sông và đường hàng không hiện đại đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp logistics Đức đạt doanh thu hơn 200 tỷ euro mỗi năm.

Đức có gần 60.000 doanh nghiệp họat động trong lĩnh vực logistics. Lực lƣợng lao động trong ngành logistics chiếm tới 2,7 triệu người (khoảng 7% tổng lực lượng lao động của Đức). Logistics là lĩnh vực dịch vụ chính tạo nhiều công ăn việc làm nhất của Đức, thu hút phần lớn lao động có trình độ cao. Thêm vào đó, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp đƣợc rải đều trong các doanh nghiệp logistics. Ngành logistics Đức được cung cấp nguồn lực từ các trường đại học có đào tạo chuyên ngành logistics với chất lượng cao. Hệ thống các trường đại học và cao đẳng phủ rộng và trải đều, gần các trung tâm logistics. Trong đó, nổi tiếng nhất là học viện Fraunhofer, trường Đại học Erlangen-Nuremberg - nơi cung cấp các chuyên gia logistics trình độ cao.

Một số thế mạnh ngành dịch vụ logistics của Đức. Có thể nhận thấy những thế mạnh của ngành dịch vụ hậu cần của Đức trên những điểm chính sau:

 Hệ thống giao thông vận tải chất lƣợng. Nếu so sánh với kết cấu hạ tầng giao thông vận tải quốc tế, thì kết cấu hạ tầng giao thông vận tải của Đức đƣợc ghi nhận tốt cả về số lượng và chất lượng. Đức có hệ thống đường cao tốc và mạng lưới đường sắt rộng lớn nhất ở châu Âu. Các sân bay, cảng biển và cảng nội địa của Đức cũng đƣợc xếp loại lớn nhất châu Ấu và luôn đƣợc nâng cấp, đổi mới. Sông Rhine (Đức) cho đến nay vẫn được xem là đường thủy nội địa quan trọng nhất châu Âu.

 Đức có hệ thống đường sắt (hơn 44.000 km) dài gấp đôi mức trung bình ở các nước trong khu vực EU; hệ thống đường cao tốc dài gần 657.140 km. Hệ thống giao thông của Đức hiện đại bậc nhất không chỉ ở châu Âu mà cả trên toàn thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên chở, tiết kiệm thời gian và chi phí. Hệ thống kết cấu hạ tầng cũng đƣợc đầu tƣ rất công phu. Chính phủ Đức nhận thức đƣợc khả năng phát triển ngành dịch vụ logistics của đất nước nên một số cơ quan nhà nước đã kết hợp với các công ty logistics tạo ra các khu vực gọi là làng vận tải, vận chuyển (freight village). Chỉ trong vòng 20 năm đã có 33 làng vận tải, vận chuyển hình thành rải đều ở khắp nước Đức phục vụ cho ngành logistics. Hệ thống làng vận tải giúp cho các điểm phân phối trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn nhiều. Nhờ có sự kết hợp từ các công ty logistics và các cơ quan chính phủ nên các ―làng vận tải‖ phát triển dịch vụ thông quan hàng hoá dễ dàng, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và công sức. Làng vận tải ―Freight village‖ đã tạo nên một khả năng cạnh tranh mạnh mẽ cho ngành dịch vụ hậu cần Đức.

 Hệ thống cảng, biển thuận lợi. Đức có đường bờ biển dài và có biên giới giáp ranh với 9 quốc gia nên có khả năng làm nơi trung chuyển hàng hoá đến các nước trong khu vực châu Âu dễ dàng, thuận lợi. Các con sông chính của Đức nhƣ sông Rhine và kênh Kiel (kênh Kiel là một đầu mối quan trọng nối liền biển Baltic và biển Bắc). Hamburg là cảng biển lớn nhất Đức và cũng là một trong 3 cảng lớn nhất thế giới. Hệ thống cảng đƣợc bố trí phủ khắp, tận dụng tất cả vùng biển. Trong số 10 bạn

87

hàng lớn nhất của cảng Hambug có tới 5 bạn hàng là các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore và Bắc Triều Tiên. Cảng Rostock của Đức có vai trò quan trọng trong thông thương của Đức với các nước bán đảo Xcăng-đi-na-vi và các quốc gia vùng biển Ban-tích; có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Đức, và giữ vị trí trọng yếu kinh tế của bang Mecklenburg-Vorpommern (nằm ở phía Đông Bắc Đức).

 Hệ thống kho bãi rộng và hiện đại. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của hệ thống kho bãi trong phát triển dịch vụ hậu cần nên Đức rất chú trọng đầu tƣ phát triển.

Hệ thống kho chứa ở Đức có diện tích lớn, cứ 8 khu vực trong nội thành là có 1 kho chứa có diện tích lớn, khả năng sắp xếp khoa học khiến cho việc dự trữ và bảo quản hàng hóa tốt. Xe container có thể đi lại vào kho dễ dàng, tiết kiệm chi phí vận chuyển.

Thêm vào đó, chi phí thuê mặt bằng ở Đức đƣợc coi là rẻ so với các quốc gia châu Âu khác, chỉ bằng một nửa so với chi phí của Anh.

Để tiếp tục phát triển ngành logistics, chính phủ Đức rất chú trọng việc đầu tƣ và mở rộng hệ thống kho bãi. Xu hướng mở rộng sự phân phối và kho vận tại thị trường nước ngoài đang được đầu tư phát triển. Công ty Schenker Gemadept Logistics của Đức lập kế hoạch mở rộng hệ thống kho vận và phân phối tại miền Nam, miền Bắc và miền Trung Việt Nam.

 Hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông phát triển. Đức là quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Đức cũng là thị trường điện thoại di động và thị trường Online lớn nhất châu Âu. Công ty chuyển phát bưu kiện - Hermes Germany đã đầu tƣ khoản tiền khổng lồ cho công nghệ thông tin vào hệ thống máy quét (scanning) để hỗ trợ dịch vụ mới, với mục đích cung cấp sự minh bạch, chính xác trong việc vận chuyển hàng hóa. Hermes Germany đƣợc biết tới nhƣ công ty chuyển phát nhanh luôn chú trọng mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho khách hàng.

Tóm lại, phát triển dịch vụ logistics của Đức có sự kết hợp đồng bộ về kết cấu hạ tầng giữa cảng biển, trung tâm logistics cũng nhƣ cơ chế đầu tƣ, quản lý kết cấu hạ tầng. Hạ tầng logistics của Đức phát triển chủ yếu dựa vào mô hình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân. Khu vực nhà nước có trách nhiệm cung cấp kết cấu hạ tầng như đất đai, phương tiện truyền thông, đường bộ và đường sắt. Các công ty tư nhân tham gia đầu tư và tổ chức xây dựng kho bãi, trạm dịch vụ... Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tƣ tƣ nhân và áp dụng mở rộng các mô hình PPP (hợp tác công tƣ).

Kinh nghiệm của Đức đã chỉ ra rằng, muốn giảm thiểu rủi ro ở các công trình đầu tƣ xây dựng hạ tầng logistics, cần kêu gọi hợp tác công tƣ (PPP) để giảm gánh nặng vốn đầu tư từ Nhà nước. Hình thức đầu tư PPP cũng góp phần minh bạch hóa thông tin và giúp cải thiện kết cấu hạ tầng vận tải nhanh hơn. Nhờ vậy, Đức luôn nằm trong Top 5 nước đứng đầu (cùng với Hà Lan, Bỉ, Anh và Singapore) có chất lượng dịch vụ logistics tốt nhất thế giới.

88 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Chương 3 mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể về ngành dịch vụ logistics và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Qua các thông tin và nội dung chương 3, người đọc có thể nắm được chức năng của dịch vụ logistics và kết cấu của ngành logistics. Hệ thống và ngành dịch vụ logistics quốc gia với các chỉ số năng lực, đặc điểm và thực trạng phát triển cũng đƣợc phân tích để làm rõ tình hình hiện tại của ngành dịch vụ logistics Việt Nam. Vai trò của doanh nghiệp dịch vụ logistics với các loại hình cung cấp cũng đã đƣợc đề cập với những cấu trúc tổ chức khác nhau đã đƣợc phân tích. Kinh nghiệm phát triển logistics tại hai đất nước thuộc hai khu vực châu Á và châu Âu đã đƣợc phân tích để rút ra những bài học cho Việt Nam.

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3

1. Hãy trình bày những hiểu biết về ngành logistics. Ngành logistics khác gì với ngành GTVT?

2. Năng lực logistics quốc gia đƣợc xác định và đánh giá nhƣ thế nào. Những chỉ số này có phản ánh năng lực logistics quốc gia.

3. Đánh giá và phân tích đặc điểm, thực trạng phát triển của ngành logistics Việt Nam 4. Hãy phân tích cấu trúc tổ chức của các doanh nghiệp logistics, và chỉ ra ƣu, nhƣợc điểm của các mô hình đó. Xu hướng cấu trúc tổ chức của ccs doanh nghiệp logistics hiện nay tại Việt Nam là gì?

5. Kinh nghiệm phát triển logistics tại Singapore và Đức đem lại cho Việt Nam những bài học gì để phát triển ngành logistics tại Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 3 TIẾNG VIỆT

1. An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018). Quản trị logistics kinh doanh. NXB Hà Nội.

2. Bộ Công Thương (2019). Tài liệu hướng dẫn về chỉ số hiệu quả logistics (LPI).

NXB Công Thương

3. Bộ Công Thương (2020). Báo cáo Logistics Việt Nam năm 2020 - Cắt giảm chi phí logistics. NXB Công Thương

4. Bộ Công Thương (2019). Báo cáo Logistics Việt Nam năm 2019 - Logistics hỗ trợ nông sản. NXB Công Thương

TIẾNG ANH

5. John. F, & Leigh.S (2014). Logistics and Retail Management, 4th Edition, Kogan Page Limited

6. Alan.R, et al. (2014). The handbook of logistics and Distribution management, Kogan Page Limited

7. Coyle, J.J. et al. (2013). Managing Supply Chain – A Logistics Approach, 9th Edition. South-Western, Cenpage Learning

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị chuỗi cung ứng (logistic) (Trang 118 - 125)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(405 trang)