3.1.1 Chính sách quản trị nhân sự của Đảng ta
Quá trình phát triển các tư tưởng quản lý đều chỉ ra rằng, con người là nguồn lực cơ bản quyết định sự phát triển của các quốc gia, các tổ chức. Bởi vì suy cho đến cùng sự phát triển của mọi quốc gia từ trước đến nay và đặc biệt trong cuộc chiến tranh gay gắt hiện nay là do nhân tố con người quyết định. Mặt khác, mọi sự phát triển do con người thúc đẩy tạo nên cuối cùng đều nhằm mục đích phục vụ cho mình là chính. Nhưng muốn phát huy nhân tố con người phải có điều kiện. Đó là cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước, trình độ, năng lực của nhà quản lý.
Ơ nước ta trước kia và hiện nay, quản lý nhân sự thường lệch về “khách thể kinh tế hơn khách thể con người”, có nghĩa là nhân tố con người chưa được đặt đúng vị trí hàng đầu. Đây là nguyên nhân chính làm cho hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp rất thấp. Vì vậy, rõ ràng là việc bồi dưỡng nâng cao trình độ bằng cách vận dụng khoa học quản lý, đặc biệt là tư tưởng quản lý – hướng vào con người cần phải nhanh chóng được phát huy ở nước ta.
Chúng ta không những cần mà có đủ các điều kiện cần thiết cho phép vận dụng tư tưởng quản lý – hướng vào con người vào công tác quản trị nhân sự doanh nghiệp.
Cùng với việc đổi mới nền kinh tế, hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã và đang tiếp tục thực hiện cải cách toàn diện về tổ chức – kinh doanh và cơ chế quản lý tạo điều kiện để đưa các tư tưởng và lý thuyết quản lý hiện đại vào doanh nghiệp.
Đường lối mở cửa xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với chính sách: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước: hội nhập, đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại…… tạo cơ hội thuận lợi để tiếp thu và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm, tư tưởng quản lý – hướng vào con người của các nước, các công ty, các hãng…… vào điều kiện cụ thể của nước ta.
Người Việt Nam vốn thông minh, hiếu học, cần cù lao động…… có khả năng tiếp thu và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn quản lý ở nước ta. Nhưng Nhà nước cần có chế độ, chính sách yêu cầu rõ hơn đối với người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tránh tình trạng bất bình đẳng trong đối xử với người lao động trong chế độ, chính sách. Cần hoàn thiện chính sách tiền lương, tuyển dụng, đào tạo đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần đang khơi dậy mọi tiềm năng to lớn, mọi sức mạnh, sáng tạo để thúc đẩy nhanh chóng công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.
3.1.2 Định lượng đánh giá kết quả quản trị nhân sự
Quản trị nhân sự tốt thể hiện kết quả kinh doanh cao, tạo được uy tín trên thị trường, khách hàng hài lòng với sản phẩm, nhân viên an tâm, phấn khởi, gắn bó với doanh nghiệp
Vì vậy, kết quả quản trị nhân sự tại công ty được đánh giá định lượng theo chỉ tiêu:
Sự hài lòng của nhân viên trong công ty thể hiện thông qua nhận định của nhân viên về mức độ hài lòng của họ đối với công ty, công việc, môi trường làm việc, cơ hội đào tạo thăng tiến, tiền lương, thưởng, phúc lợi.
Sử dụng phiếu thăm dò để đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên trong công ty theo 5 bậc: từ rất tốt đến rất thấp: 5 là rất tốt, 4 là tốt, 3 là trung bình, 2 là thấp, 1 là rất thấp. Kết quả cho thấy nhân viên có mức độ hài lòng chung trong công ty là 4 đạt mức tốt.
Chi tiết hơn, cuộc điều tra còn tiến hành nghiên cứu mức độ hài lòng của nhân viên đối với các yếu tố sau: công việc, cơ hội đào tạo - thăng tiến, môi trường – không khí làm việc, thu nhập.
Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên trong công ty với số điểm trung bình theo các tiêu thức như sau:
- Mức độ hài lòng với công việc: 4.1
- Mức độ hài lòng với cơ hội đào tạo, thăng tiến: 3.8
- Mức độ hài lòng với môi trường làm việc trong công ty: 4.0 - Anh (chị) thoả mãn với thu nhập: 3.3
Anh hưởng của các yếu tố đến mức độ hài lòng chung của nhân viên tại nơi làm việc được xác định dựa theo phân tích tương quan trên phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy mối liên hệ tương quan thuận chỉ ở mức trung bình giữa các tiêu thức sau:(Phụ lục 1)
Đối xử thân thiết, thoải mái với hợp tác làm việc là 0,426.
Mức độ hài lòng công việc với mức độ hài lòng cơ hội đào tạo, thăng tiến là 0,477.
Hợp tác làm việc với tác phong lãnh đạo là 0,091.
Chỉ dẫn công việc với thông tin làm việc là 0,390.
Khách hàng đánh giá về công ty với mức độ hài lòng về cơ hội đào tạo, thăng tiến là 0,477.
Ap ực công việc với ban quản trị không phân biệt đối xử giữa các nhân viên là 0,091.
Hợp tác làm việc với thoả mãn về thu nhập là 0,426.
Theo kết quả tổng hợp điều tra mức độ hài lòng của nhân viên trong công ty cùng kết hợp xử lý trên phần mềm SPSS, kết quả cho thấy:
Tình hình hoạt động của công ty được đánh giá rất tốt chiếm 8,3%, tốt chiếm 91,7%, cho thấy công ty có tình hình hoạt động ổn định, có uy tín trên thị trường được khách hàng tín nhiệm chiếm 91,7% là tốt và 8,3% là rất tốt.(Phụ lục 2)
Công ty luôn đặt khách hàng lên hàng đầu trong quá trình hoạt động, đối xử hoà nhã, thân thiết với khách hàng chiếm 91,7% là tốt, 8,3% rất tốt. Các công trình xây dựng được đánh giá tốt đảm bảo đạt chất lượng chiếm 100%. Bên cạnh đó, công ty cũng quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường tại nơi sản xuất ở mức cao nhất được đánh giá cao chiếm 16,7% rất tốt, 83,3% tốt. Đối với ngành xây dựng, mức độ nguy hiểm tương đối cao, cho nên đảm bảo an toàn trong lao động là cần thiết nên công nhân được trang bị đồ bảo hộ lao động phù hợp cho từng công việc đạt mức độ tốt là 16,7%, rất tốt chiếm 83,3%. Vì vậy, vấn đề vệ sinh lao động cũng được chú trọng bằng trang bị khẩu trang chống bụi đường được đảm bảo 100%.(Phụ lục 3)
Trong công ty luôn được bố trí một cách khoa học từng phòng ban luôn gọn gàng, sạch sẽ chiếm 66,7% rất tốt, 33,3% tốt, mọi nhân viên có quan hệ thân thiết, thoải mái trong công việc được đánh giá tốt chiếm 66,7%, rất tốt chiếm 33,3%. Do đó, nhân viên luôn làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, đúng giờ theo phương châm hết việc chứ không hết giờ chiếm 50% là rất tốt và 50% là tốt. Chính vì vậy, tinh thần trách nhiệm đối với công việc của họ cũng được nâng cao chiếm 66,7% tốt, 33,3 % rất tốt. Qua đó, mọi thủ tục quá rườm rà đều được công ty đơn giản hoá cho phù hợp với quy mô của công ty tương ứng 41,7% rất tốt, 58,3% tốt.(Phụ lục 4)
Nhân viên của công ty đều được sắp xếp đúng việc, đúng trình độ cho công việc nên tình trạng bố trí công việc không đúng với trình độ hầu như không nhiều chủ yếu là được đánh giá tốt về công việc họ đang thực hiện chiếm 83,3%, như vậy nên công việc luôn ổn định 100% không có sự thuyên chuyển hay sa thải nhân viên mà chỉ có tuyển nhân viên mới cho công việc cần thiết. Tuy nhiên, năng lực cá nhân vẫn chưa được phát huy hết, đa số cho rằng công ty chưa khai thác hết năng lực của họ chiếm 75%. Việc tiếp nhận công tác của nhân viên chưa được hướng dẫn kỹ lưỡng có tới 50% nhân viên cho rằng chỉ hướng dẫn sơ xài, chủ yếu là tự mình thực hiện, đây cũng
là một đặc điểm tốt của công ty muốn nhân viên phải linh hoạt hơn trong công việc.
Chính vì vậy, việc đánh giá thực hiện công việc ở công ty cũng chỉ tiến hành đánh giá theo năng lực và kết quả thực hiện công việc, nhưng chỉ ở mức trung bình chiếm 58,3%. Nhìn chung, nhân viên hài lòng với công việc hiện tại chiếm 91,7%.(Phụ lục 5)
Tình hình thực hiện công việc của công ty được bố trí số lượng nhân viên vừa đủ cho công việc, tạo thuận lợi trong việc hợp tác giữa các phòng ban giải quyết công việc chống trì trệ chiếm 91,7 % tốt, 8,3% rất tốt. Do đó, chất lượng thực hiện công việc trong công ty được đảm bảo tốt nhất. (Phụ lục 6)
Hầu hết các nhân viên đều có đủ kỹ năng thực hiện công việc cao nhất chiếm 8,3%, và thực hiện được công việc chiếm 91,7%. Do công ty đánh giá theo kết quả thực hiện công việc nên số lượng người được tham gia đào tạo theo yêu cầu công việc chưa cao, chỉ có 16,7% được đào tạo theo yêu cầu công việc, còn tới 58,3% chưa được đào tạo nâng cao kỹ năng làm việc. Tuy nhiên, họ vẫn hài lòng với cơ hội đào tạo, thăng tiến chiếm 33,3% ở mức trung bình, 50% ở mức tốt, và 16,7% rất tốt, do công ty mới đổi mới cơ cấu nhân sự nên nhân viên phần lớn là nhân viên mới nên chưa được tham gia nhiều vào công tác đào tạo.(Phụ lục 7)
Trong khi làm việc, nếu nhân viên có đủ thông tin cập nhật cho công việc thì công việc sẽ ít sai sót hơn, nhưng phần lớn công ty vẫn chưa có đủ thông tin cho từng công việc làm chậm đi tiến trình thực hiện chỉ ở mức trung bình 58,3%, 8,3% thấp, 25% thông tin ở mức độ khá tốt, 8,3 % ở mức độ rất tốt để thực hiện công việc. Chính sách, thủ tục liên quan đến nhân viên được công ty chú trọng hầu hết đều được đánh giá tốt ở tất cả các nhân viên được tìm hiểu. Trong công việc, nhân viên cũng được tham gia đóng góp ý kiến cho cấp trên chiếm 41,7% thường xuyên tham gia ý kiến, 8,3% rất thường xuyên tham gia ý kiến, 50% không thường xuyên lắm.(Phụ lục 8)
Một tiêu thức nữa không kém phần quan trọng trong môi trường làm việc của công ty là không khí làm việc. Ban giám đốc có tác phong lãnh đạo cởi mở, nhanh nhẹn được nhân viên đánh giá rất cao chiếm 91,7%. Các cán bộ lãnh đạo cũng tin cậy, tôn trọng giao việc cho nhân viên chiếm 83,3% ở mức độ khá cao, 16,7% ở mức độ cao. Nhân viên đều được xem trọng như nhau trong công việc riêng của họ, không có sự phân biệt đối xử trong công ty. Do đó, áp lực trong thực hiện công việc cũng không có, nhân viên được thoải mái làm việc trong môi trường thân thiện, cởi mở với nhau.
(Phụ lục 9)
Cuối cùng, đó là vấn đề về lương, thưởng, phúc lợi, phần lớn nhân viên không thỏa mãn lắm về thu nhập của mình bởi do mức sống tại thành phố khá cao gần 66,7%
ở mức trung bình, 33,3% ở mức khá cao. Nhưng nhân viên vẫn có thể sống dựa vào thu nhập tại công ty chiếm 75% là sống được, 8,3% ở mức trung bình, 16,7% có khả năng chưa đủ để hoàn toàn dựa vào nguồn thu nhập này. Bên cạnh đó, công ty có chính sách thưởng tương ứng với kết quả làm việc được nhân viên ủng hộ hoàn toàn.
Đây là một trong những nguồn động lực giúp nhân viên thể hiện khả năng làm việc
của mình, nên nhìn chung, nhân viên hài lòng về chính sách lương, thưởng, phúc lợi.(Phụ lục 10)
Tóm lại, nhân viên đánh giá tốt về công ty trong hầu hết các tiêu thức cuộc thăm dò thực hiện. Tuy nhiên, do hạn chế số lượng người tham gia, nhưng nhìn chung công ty đã tạo được uy tín trên thị trường, niềm tin trong nhân viên.