CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THIẾT BỊ NÂNG TẠI CÔNG TY
5.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
5.1.2. Tiến trình đánh giá rủi ro
5.1.2.1. Nhận diện mối nguy hiểm:
Nhận diện mối nguy hiểm là nhằm xác định sự kết hợp các yếu tố nguy hiểm, có hại với các hành vi không an toàn tiềm ẩn khả năng gây ra tai nạn, sự cố rủi ro.
Đồng thời xác định đối tƣợng sẽ là nạn nhân của các tai nạn, sự cố này.
Nhận diện yếu tố nguy hiểm, có hại:
− Yếu tố nguy hiểm cơ học: các bộ phận cơ cấu truyền động, các bộ phận chuyển động quay, các bộ phận chuyển động tịnh tiến, vật rơi từ trên cao, trơn trƣợt, té ngã…
− Yếu tố nguy hiểm vật lý: vi khí hậu, bức xạ điện từ, bức xạ ion hóa, tiếng ồn, rung xóc, áp suất…
− Yếu tố nguy hiểm hóa học: bụi trong sản xuất, chất độc, hơi khí độc…
− Yếu tố nguy hiểm sinh học: Chất thải sinh học, virus, ký sinh trùng…
− Yếu tố nguy hiểm về điện, tĩnh điện gây điện giật, cháy nổ
− Yếu tố nguy hiểm về nhiệt: ngọn lửa, tia lửa, vật nung nấu, nóng chảy, hơi khí nóng…
− Yếu tố nguy hiểm nổ: bụi, khí, chất lỏng tiếp xúc với nguồn lửa nhƣ nổ cháy xăng dầu, khí đốt, thuốc nổ…
− Yếu tố nguy hiểm thể chất
− Các yếu tố liên quan đến tổ chức lao động: thời gian làm việc và nghỉ ngơi bố trí không hợp lý; cường độ lao động quá nặng nhọc; tư thế lao động gò bó; sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ các hệ thống và giác quan ( thần kinh, thị giác, thính giác…) trong thời gian làm việc; bố trí nơi làm việc chật chội, lộn xộn; công cụ sản xuất không phù hợp với cơ thể về hình dạng trọng lƣợng, kích thước…
Nhận diện hành vi mất an toàn:
Các TNLĐ, sự cố đều bắt nguồn từ những hành vi mất an toàn. Các hành vi mất an toàn này có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc nguyên nhân gián tiếp gây ra TNLĐ, sự cố.
Hành vi mất an toàn là hành vi của con người mà hậu quả của nó có thể gây ra tai nạn, sự cố.
Khi nhận diện mối nguy hiểm ta cần chú ý các điểm sau:
− Đặt vấn đề con người và môi trường lên hàng đầu.
− Các hướng dẫn sử dụng và tem cảnh báo của nhà sản xuất phải được luôn coi trọng.
− Hãy quan sát và đặt ra tình huống từ mọi phía
− Sự ổn định của vật, hoặc thiết bị gây nguy hiểm phải đƣợc xem xét và đánh giá đúng mức.
− Luôn suy xét khả năng dịch chuyển của vật theo quán tính và trọng lực hoặc những chuyển dịch định hướng. Xem xét kỹ nguồn gốc của lực tác động hay năng lƣợng gốc của các hoạt động chuyển dịch hay thay đổi trạng thái.
− Luôn quan sát và tìm hiểu tình trạng bảo vệ an toàn cho vật tại vị trí cân bằng.
− Xem xét các khả năng tác động của thiên nhiên.
− Để nhận biết cụ thể, chi tiết một vật hay điều kiện môi trường nào đó nguy hiểm như thế nào, ta có thể tìm đến câu trả lời từ các tài liệu hướng dẫn, các quy định của pháp luật hay từ những người có kinh nghiệm chuyên môn, các thiết bị đo đạc v.v…
− Một phương thức đơn giản để nhận diện mối nguy hiểm cho một quy trình công nghệ là ta chia quy trình này thành từng bước chính với bảng nêu rõ những yếu tố nguy hiểm trong từng bước này cùng với tai nạn, sự cố rủi ro xảy ra do các yếu tố nguy hiểm này gây nên. Điều này cũng giúp ta dễ dàng trong việc đề ra biện pháp kiểm soát rủi ro tương ứng hữu hiệu.
5.1.2.2. Định mức rủi ro:
Việc định mức rủi ro cho công việc phải được tiến hành trước khi bắt đầu thực hiện công việc đó.
Một bảng định mức rủi ro cần phải đƣợc thực hiện bởi một ban định mức.
Người tham gia quá trình định mức rủi ro phải:
− Nắm đƣợc nguyên tắc và trình tự định mức
− Có kinh ngiệm trong công việc mà mình sẽ tham gia định mức
Bảng đánh giá rủi ro phải được ghi một cách rõ ràng sao cho mọi người tham gia làm việc đều có thể đọc và hiểu đƣợc. Nội dung chủ yếu của bảng định mức rủi ro cần thể hiện:
− Ghi rõ cho từng công việc, thời gian cũng nhƣ địa điểm thực hiện.
− Những mối nguy hiểm hiện hữu hay tiềm ẩn có thể tác động đến quá trình tiến hành công việc.
− Những tác động đó gây ra thiệt hại đến mức độ nào? Những ai sẽ bị ảnh hưởng.
− Tên những người tham gia quá trình định mức cũng như tên người có thẩm quyền phê duyệt.
Mức độ rủi ro đƣợc xác định bằng cách tính thang điểm nhƣ sau:
Mức độ rủi ro = Cấp độ nguy hiểm x Hệ số rủi ro
− Khi mức độ rủi ro > 20: Rủi ro không thể chấp nhận đƣợc. Phải có biện pháp giảm trừ rủi ro ngay trước khi bắt đầu hay tiếp tục công việc.
− Khi mức độ rủi ro = 16 ÷ 20: Rủi ro cao. Phải có biện pháp giảm trừ rủi ro ngay trước khi bắt đầu công việc.
− Khi mức độ rủi ro = 11 ÷ 15: Rủi ro vừa phải. Cần có biện pháp giảm trừ rủi ro đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian xác định.
− Khi mức độ rủi ro = 6 ÷ 10: Rủi ro có thể chịu đƣợc. Không có sự kiểm soát nào đƣợc yêu cầu thực hiện.
− Khi mức độ rủi ro = 1 ÷ 5: Rủi ro không đáng kể. Không có hành động nào đƣợc yêu cầu thực hiện.
5.1.2.3. Kiểm soát rủi ro:
Kiểm soát rủi ro là tập hợp những biện pháp kỹ thuật, những biện pháp tổ chức và những quá trình nhằm né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu tổn thất bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro.
Né tránh (chấm dứt) tổn thất:
Biện pháp này là né tránh những hoạt động, con người, thiết bị làm phát sinh tổn thất có thể có, hoặc loại bỏ những nguyên nhân dẫn đến tổn thất.
Ngăn ngừa tổn thất:
Biện pháp này là tìm cách giảm bớt số lƣợng các tổn thất xảy ra hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn.
Giảm thiểu tổn thất:
Biện pháp này nhằm làm giảm bớt tổn thất khi sự cố, tai nạn xảy ra (làm giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất)
Các biện pháp có thể khác nhau, nhƣng ta nên tuân theo các mức độ ƣu tiên sau để lựa chọn hình thức phù hợp với mỗi tiến trình của công việc:
Loại trừ: là biện pháp đƣợc ƣu tiên nhất vì nó mang lại hiệu quả triệt để, loại bỏ hoàn toàn các mối nguy hiểm cho con người, đem lại môi trường làm việc an toàn nhất.
Cách ly: cách ly mối nguy hiểm ra khỏi khu vực làm việc nhằm tránh tiếp xúc với chúng
Thay thế: thay thế những mối nguy hiểm bằng những điều kiện, thiết bị … an toàn hơn
Chế tạo: sửa đổi, cung cấp thêm các thiết bị hay biện pháp bảo vệ khi tiếp xúc với các mối nguy hiểm
Chính sách: cung cấp một chính sách hay chế độ và thời gian làm việc phù hợp Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: trang bị phương tiện cá nhân luôn là sự lựa chọn cuối cùng sau khi tất cả các sự lựa chọn trên đã đƣợc xem xét và tiến hành.