6. Bố cục luận văn
2.2. Thực trạng phát triển du lịch làng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
2.2.1. Thực trạng các làng nghề ở thành phố Hồ Chí Minh
ắ Thu nhập của cỏc làng nghề
Các làng nghề được điều tra đều tạo việc làm cho một bộ phận lớn lao động phổ thông. Các làng nghề không chỉ tạo công ăn việc làm cho địa phương mà còn thu hút các lao động ở nơi khác. Và đặc biệt sự phát triển ổn định của các làng nghề truyền thống còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề, dịch vụ liên quan.
Đồng thời sự ổn định của nó sẽ giúp người lao động khắc phục tính thời vụ trong sản xuất.
Bảng 2.5.Thu nhập của lao động ở các làng nghề miền Đông Nam Bộ Làng nghề
Thu nhập của
lao động/tháng Bánh tráng Phú Hòa
Đông
Chạm khắc gỗ Trung
Mỹ Tây
Sơn mài Tương Bình
Hiệp
Đan lát Thái Mỹ
Gỗ mỹ nghệ Bình
Minh
Dưới 500.000 Đ 16 37
500.000 -
1.100.000 Đ 80 4 14 9 10
1.100.000 -
1.500.000 Đ 10 10 17 1 10
Trên 1.500.000
Đ 4 1 5
Tổng cộng 106 18 32 47 25
Đơn vị tính: Cơ sở sản xuất
( Nguồn : Khảo sát các làng nghề miền Đông Nam Bộ của Ths. Nguyễn Đình Hoà, khoa Quản trị Kinh Doanh trường Đại học Tôn Đức Thắng, 2008 )
Nhìn vào bảng thống kê thu nhập (bảng 2.5) của các lao động làng nghề có thể nói rằng rất thấp, thu nhập trung bình của họ chỉ trong khoảng 1.000.000 đồng một người, như vậy rất khó khăn trong đời sống hiện nay. Số lao động có mức thu nhập trên 1.500.000 đồng/ tháng rất ít, thậm chí, ở một số làng nghề còn không có mức thu nhập “cao” như vậy.
Tất cả đã cho thấy sự khó khăn của các làng nghề và lao động làng nghề. Các làng nghề chỉ hoạt động cầm chừng và đang ngày càng bị mai một do bị lãng quên và rất khó khăn trong việc lưu giữ nghề truyền thống trong cuộc sống hiện nay khi không có sự hỗ trợ từ các sở ban ngành. Họ buộc phải lựa chọn giữa việc phải giữ nghề hoặc cái ăn, điều này lý giải vì sao số lượng các làng nghề vùng Đông Nam Bộ nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng bị suy giảm.
Với thực trạng trên, có thế thấy việc đưa hoạt động du lịch vào các làng nghề là một trong những hướng giải quyết hiệu quả tình trạng khó khăn của các làng nghề hiện nay. Việc phát triển du lịch làng nghề sẽ tạo thêm thu nhập cho người dân làng nghề ngoài việc sản xuất chính. Ngoài ra, còn tạo điều kiện tạo công ăn việc làm cho người dân tại các làng nghề, góp phần vào việc giải quyết việc làm cho địa phương và thành phố Hồ Chí Minh.
ắ Độ tuổi, trỡnh độ, tay nghề lao động:
Độ tuổi trung bình của người lao động tại các làng nghề được thống kê tương đối trẻ, từ 20-40 tuổi. Tại các làng nghề làm gốm sứ, mây tre đen... thì tỷ lệ người cao tuổi tương đối cao (chiếm khoảng trên 20% số lao động), các nghề đòi hỏi tay nghề trung bình và sức khỏe như nghề gỗ mỹ nghệ, đúc đồng... thì tỷ lệ này khoảng 12-15%.
Nhìn chung lao động tại các làng nghề có trình độ văn hóa thấp. Vì vậy, việc mở rộng qui mô sản xuất và khả năng sáng tạo của các cơ sở sản xuất bị hạn chế rất nhiều. Đây là một trong những nguyên nhân tại sao các làng nghề hiện nay có rất ít các mô hình công ty, mà chủ yếu là các hộ sản xuất và hợp tác xã. Cũng do trình độ học vấn thấp nên ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu và áp dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao hiệu sản xuất của làng nghề.
Vấn đề bất cập thực tế hiện nay là sản phẩm có chất lượng cao phụ thuộc chủ yếu vào tay nghề của thợ bậc cao. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là vấn đề truyền nghề và giáo dục tại làng nghề chưa được coi trọng. Trong làng nghề truyền thống các nghệ nhân có vai trò quyết định đối với việc duy trì và phát triển làng nghề. Tuy nhiên trong thực tế trong thực tế lâu nay, sự đánh giá vai trò và chế độ đãi ngộ đối với các nghệ nhân chưa đúng mức nên ở một chừng mực nhất định đã làm giảm tâm huyết của họ đối với người học việc.
ắ Mặt bằng sản xuất kinh doanh của cỏc cơ sở ở cỏc làng nghề và hạn chế, quy mô, vốn nhỏ
Đặc điểm phổ biến của làng nghề là mỗi hộ gia đình là một cơ sở sản xuất với nhà xưởng, kho hàng, hàng hóa riêng. Nhìn chung, các hộ sản xuất kinh doanh đều cảm thấy khó khăn về diện tích nhà xưởng. Họ mong muốn được mở rộng diện tích đồng thời tách riêng khu vực sản xuất và nhà ở. Tuy nhiên, ít nơi nào đáp ứng được yêu cầu này.
Bên cạnh đó, qui mô nhỏ cũng là nhân tố cản trở sự phát triển của các cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm thủ công. Nhu cầu đa dạng sản phẩm, chất lượng cao, mẫu mã phong phú, đòi hỏi các làng nghề phải đầu tư vốn lớn vào sản xuất, cải tiến trang thiết bị, nâng cao công nghệ. Nhu cầu vốn của làng nghề ngày càng lớn, tuy nhiên, các làng nghề hiện nay đều sử dụng nguồn vốn tư nhân là chủ yếu. Khả năng huy động các nguồn vốn khác không dễ dàng.
Hầu hết các doanh nghiệp trên thị trường chỉ đặt hàng sản phẩm chứ chưa trực tiếp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Tính chất sản xuất nhỏ, khép kín, qui mô vốn ít khiến các cơ sở kinh doanh sản phẩm thủ công chưa tạo được thế mạnh cạnh tranh trên thị trường và đầu tư đồng bộ cho công nghề, kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.
ắ Trỡnh độ và kĩ thuật trong cỏc làng nghề
Để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tùy theo tính chất và đặc thù của sản phẩm, một số làng nghề đã đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị, cải tiến công nghệ.
Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị máy móc thiết bị, công cụ sản xuất tính bình quân trên một lao động thường xuyên cả một doanh nghiệp là 12,097 triệu đồng, ở các hộ chuyên nghề là 3,588 triệu đồng và ở các hộ kiêm là 12,097 triệu đồng. Trình độ kỹ thuật, cơ khí của doanh nghiệp chỉ chiếm 43,2%, trình độ kỹ thuật thủ công và bán cơ khí còn chiếm tỷ lệ cao là 56,8%
Cũng từ kết quả điều tra trên cho thấy có tới 56% cơ sở sản xuất thủ công ở các làng nghề truyền thống đang gặp khó khăn về công nghệ sản xuất, 19% số cơ sở rất khó khăn, có tới 70% làng nghề cho rằng đang gặp khó khăn về công nghệ sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng và năng lực cạnh tranh sản phẩm của làng nghề.
ắ Khả năng cạnh tranh cho cỏc sản phẩm làng nghề
Hiện nay, một phần lớn các sản phẩm của làng nghề có chất lượng chưa tốt, chưa đồng đều, trình độ thẩm mĩ chưa cao nên sức cạnh tranh trên thị trường còn kém. Chất lượng sản phẩm thấp do 3 nguyên nhân chính:
Thứ nhất, là do công nghệ, trang thiết bị sản xuất của làng nghề phát triển chậm, qui trình sản xuất yếu kém.
Thứ hai, hầu hết các chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề chưa quan tâm đến việc đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và tiêu chuẩn môi trường.
Thứ ba, một số ngành chưa có nguyên liệu ổn định và các ngành sản xuất phụ trợ. Thị trường cung cấp nguyên vật liệu cho các cơ sở sản xuất trong các làng nghề phần lớn là thị trường địa phương tại chỗ, gắn bó với tài nguyên, các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và những chất phế thải, phế liệu. Song thực tế không ít các cơ sở sản xuất phụ thuộc lớn vào nguồn cung cấp từ các địa bàn, địa phương khác và cả thị trường quốc tế. Bởi vậy, nếu nhà nước và chính quyền địa phương không có biện pháp xây dựng đầu vào cho sản phẩm thủ công thì khó nâng cao chất lượng sản phẩm
Bên cạnh vấn đề chất lượng, hàng thủ công mỹ nghệ chưa phản ánh sinh động giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, mẫu mã ít đổi mới nên kém hấp dẫn như các sản phẩm gỗ, gốm... chưa có những cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm.
ắ Cơ sở hạ tầng kĩ thuật làng nghề thấp kộm
Qua điều tra thực tế tại địa phương, tôi nhận thấy cơ sở tại các làng nghề còn yếu. Hầu hết các làng nghề đều chưa có hệ thống y tế và công trình phúc lợi đạt yêu cầu phát triển du lịch lâu dài. Cơ sở hạ tầng tại các làng nghề chưa được quan tâm đúng mức, mức độ sử dụng các dịch vụ công cộng tại các làng nghề chưa cao.
Tại một số làng nghề, các cơ sở tư nhân mọc lên rất nhiều nhưng không được quy hoạch tập trung, đồng thời mẫu mã, sản phẩm đơn điệu, rất giống nhau, không tạo được bản sắc
ắ Mụi trường sản xuất và sinh hoạt của làng nghề đang bị ụ nhiễm nghiêm trọng
Một trong những vấn đề nghiêm trọng được báo chí đề cập đến rất nhiều trong thời gian qua tại các làng nghề là tình trạng ô nhiễm môi trường sản xuất và môi trường sinh hoạt. Tại các làng nghề như làng gốm Cây Mai, Lê Châu..., lượng khói bụi từ các lò nung gốm lan tỏa hàng ngày làm không khí tại đây nóng, bẩn và ô nhiễm. Làng nghề mộc Băng Ky lại gây ô nhiễm bởi tiếng ồn của hàng loạt máy
cưa, xẻ, đục, chạm,... hoạt động liên tục gây ra những bụi gỗ, chất thải ô nhiễm cho làng nghề và khu vực xung quanh.
Nghề mây tre lá (làng bồ An Nhơn Tây, làng rổ rá Thái Mỹ....) lại có những khó khăn về môi trường mà hiện thời chưa giải quyết được. Vào mùa làm ăn, làng nghề lại chịu đựng mùi lưu huỳnh cháy, bởi muốn làm trắng thân cây mây, người ta phải bỏ mây vào trong nhà kho kín và đốt lưu hùynh trong đó. Đồng thời để chống mối mọt và làm cứng sản phẩm, một loại hóa chất độc hại sau đó những dung dịch độc hại trên lại được đổ xuống ngay hệ thống nước thải, hay tệ hơn đổ xuống vườn nhà gây nên nguy cơ ô nhiễm nguồn nước rất cao. Tại các cơ sở sơn mài, người dân ở đây đều phải chịu đựng mùi sơn, hóa chất xử lý sơn mài và bụi gỗ hàng ngày. Tại các làng nghề đúc lư đồng An Hội thường được đặt tại nhà nên toàn bộ khói, bụi và khí độc phân hủy ra từ kim lọai nung nóng đều thải vào khu dân cư ngay tại đó. Bên cạnh đó, nước thải từ bể đãi vụn đồng cũng chảy vào hệ thống thoát nước của làng ra hệ thống kênh mương gần đó khiến cho nguy cơ ô nhiễm thực sự đáng báo động.
Môi trường sống tại các làng nghề này còn bị ô nhiễm bởi sự thiếu ý thức của người dân và thiếu quy hoạch của chính quyền địa phương. Chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và bụi đã làm cho các con kênh, mương, ao hồ, đường làng… bị ô nhiễm nặng. Việc các hộ gia đình sản xuất hàng thủ công ngay tại nơi sinh hoạt đã gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sống của cả gia đình. Họ không có đủ kinh phí và đất đai để cải tạo, nâng cấp công nghệ hay di chuyển bộ phận sản xuất ra khỏi khu vực sinh hoạt. Các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn thì có khá hơn, đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề môi trường trong sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp còn quan tâm đến tiêu chuẩn ISO14000 về môi trường. Tuy nhiên các giải pháp của họ còn mang tính cục bộ, đối phó và không bền vững. Điều thực sự ở đây là thiếu một giải pháp hoàn thiện, đồng bộ và lâu dài cho từng làng nghề, mà đây lại nằm ngoài khả năng của doanh nghiệp. Sự quan tâm của chính quyền địa phương và trung ương mới là nhân tố then chốt để giải quyết tận gốc môi trường.
Chắc chắn với tình trạng môi trường hiện nay thì khó có thể phát triển du lịch làng nghề được.
ắ Khả năng tiếp cận thị trường và xỳc tiến kinh doanh của người sản xuất và kinh doanh tại làng nghề còn yếu
Trên thực tế, tiềm năng sản xuất hàng xuất khẩu tại các làng nghề, nhất là xuất khẩu tận gốc là rất lớn. Nhưng hiện nay các hộ sản xuất còn chưa quan tâm nhiều đến việc đa dạng hóa các thị trường tiêu thụ, chỉ sản xuất ra rồi bán ngay tại địa phương.
Một trong những yếu tố đầu tiên là vấn đề tiếp cận thị trường. Thực tế nhiều sản phẩm ra còn tiêu thụ chậm, các mặt hàng gỗ khảm trai, sơn mài… là do thiếu thông tin về thị trường. Hầu như các doanh nghiệp chủ yếu phải tự tìm kiếm thị
trường. Điều đó cho thấy cần thiết phải có một cầu nối trực tiếp đến cơ sở sản xuất nhằm cung cấp thông tin và định hướng thị trường, giảm bớt các khâu trung gian.
Đầu ra cho các sản phẩm từ trước đến nay luôn là vấn đề lớn nhất của các làng nghề truyền thống Việt Nam. Thị trường không ổn định, bị ép giá, thiếu thông tin thị trường… đã làm cho doanh thu của các cơ sở sản xuất không xứng với tiềm năng, đồng thời việc sản xuất rất thụ động. Cũng như việc tương quan giữa thị trường trong và ngoài nước đang thay đổi theo xu hướng giảm dần thị trường trong nước.
Khảo sát ở các làng nghề miền Đông Nam Bộ cho thấy các làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông có 79(75,2%) CSSX không thay đổi số lượng khách hàng qua các năm. Tương tự, làng nghề chạm khắc gỗ Trung Mỹ Tây có 10 (55,6%) CSSX, làng nghề dệt Xuân Thới Đông có 20(50%) CSSX và các làng nghề gốm sứ ở Bình Dương có 22(44,9%) CSSX không thay đổi số lượng khách hàng qua các năm.
CSSX ở các làng nghề miền Đông Nam Bộ chưa chủ động phát triển số lượng khách hàng. Hệ quả là các CSSX bị lệ thuộc vào các đơn vị phân phối, bị ép giá, bị động ở khâu tổ chức tiêu thụ, kênh phân phối sản phẩm không đa dạng và không có nhiều cơ hội phát triển.
Bảng 2.6. Những loại hình phân phối sản phẩm của CSSX ở các làng nghề miền Đông Nam Bộ
Các loại hình phân phối Số lượng Tỷ lệ (%) Phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng 28 5,8 %
Phân phối qua một trung gian 149 31,0 % Phân phối qua nhiều trung gian 269 56,1 % Kết hợp nhiều hình thức phân phối 34 7,1 %
Tổng cộng 480 100 %
( Nguồn : Khảo sát các làng nghề miền Đông Nam Bộ 2005-2007 )
Nhìn vào bảng thống kê, ta có thể thấy rằng, hơn 50% các cơ sở sản xuất ở các làng nghề phân phối sản phẩm qua nhiều trung gian, hình thức phân phối qua một trung gian chiếm 31%. Điều này lý giải vì sao các sản phẩm thủ công truyền
thống tại các làng nghề thường rất cao mặc dù nguyên vật liệu và giá nhân công khá rẻ. Những hình thức phân phối này làm tăng rất cao giá thành sản phẩm khi đến được tay người tiêu dùng dù giá các nguyên liệu và nhân công không hề cao.
Do các làng nghề thường nằm ở những nơi khó đi lại đồng thời lại không có chính sách quảng bá cho sản phẩm làng nghề của mình nên người tiêu dùng không thể biết mà tìm đến họ. Điều này được thể hiện qua hình thức phân phối của các làng nghề đến trực tiếp khách hàng chỉ có 5,8%, chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các loại hình phân phối. Họ buộc lòng phải thông qua nhiều trung gian, điều này sẽ đẩy giá lên cao nhưng thực chất lợi nhuận lại vào tay các nhà trung gian, các cơ sở làng nghề vẫn là người chịu thiệt. Trong khi đó, do giá thành cao nên khách hàng thường e dè khi quyết định mua các sản phẩm thủ công truyền thống. Tất cả những điều này lại gây thêm nhiều khó khăn cho việc phát triển hoạt động du lịch tại các làng nghề.
ắ Tỷ lệ cỏc thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh thể hiện sự mất cân đối
Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực trong những năm gần đây, nhưng tỷ trọng quá lớn của các hộ sản xuất- kinh doanh đơn lẻ là minh chứng cho tính manh mún, tự phát của nghề truyền thống Việt Nam. Thực trạng này tất yếu sẽ dẫn đến việc thiếu quy hoạch, thiếu vốn và một loạt các vấn đề nan giải khác.
Bên cạnh đó, tỷ lệ khiêm tốn của các thành phần kinh tế tập thể, doanh nghiệp, công ty cổ phần trong tổng số các thành phần kinh tế cho thấy sự phát triển về trình độ quản lý kinh tế còn chậm. Đây cũng là hạn chế rất lớn trong việc phát triển các sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao chất lượng sản phẩm, nhất là vấn đề mẫu mã, thương hiệu sản phẩm của các làng nghề.
ắ Vấn đề đăng kớ thương hiệu và bảo hộ quyền sở hữu cụng nghệ bị coi nhẹ
Vấn đề đăng kí thương hiệu và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng chưa được các cơ cở sản xuất kinh doanh nghề thủ công coi trọng. Hầu hết các cơ cở sản xuất kinh doanh chưa đăng kí thương hiệu và đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho các sản phẩm của mình. Chính vì vậy, mặt hàng của các làng nghề tương đối gần nhau về mặt địa lý và của các cơ sở trong cùng một làng nghề quá giống nhau, dẫn đến sự nhàm chán cho khách hàng. Mặt khác, chính sự sao chép các mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm dần dần đã thủ tiêu sự sáng tạo và ý thức phấn đấu của các cơ sở sản xuất.