Chương II: NHIỆM VỤ THIẾT KẾ
II.1 Phân tích, đánh giá các không gian thiết kế
Sảnh là nơi đón tiếp khách, là ấn tượng đầu tiên, là bộ mặt của bệnh viện. Việc thiết kế sảnh còn thể hiện rõ phong cách và ý tưởng nghệ thuật của bệnh viện.
Một số hình ảnh sảnh bệnh viện
*Không gian sảnh thiết kế:
Mặt bằng tầng 1 Diện tích không gian sảnh: 227m2
Sảnh là nơi đón tiếp khách, là ấn tượng đầu tiên, là bộ mặt của bệnh viện. Việc thiết kế sảnh còn thể hiện rõ phong cách và ý tưởng nghệ thuật của bệnh viện.
Sảnh bệnh viện gồm các thành phần:
-Cửa vào: cửa vào thuộc sảnh chính của bệnh viện thường là cửa bốn cánh có kích thước chung chiều rộng từ 3m5 đến 4m, chiều cao từ 2m1- 3m để dễ dàng cho việc vận chuyển bệnh nhân và những trang thiết bị có kích thước lớn.
-Khu vực chờ: gồm những chiếc ghế chờ để người thân hay bệnh nhân bệnh nhẹ chờ tiếp nhận cũng như bệnh nhân vừa xuất viện ngồi chờ làm thủ tục về nhà...
Khu vực này thường chiếm 20% tổng diện tích sảnh, có thể chia ra nhiều cụm khác nhau.
-Khu điện thoại công cộng: gồm ghế chờ và các bốt điện thoại giúp người bệnh nhân có thể liên lạc được với người nhà hoặc những người không có điện thoại di động có nhu cầu sử dụng điện thoại công cộng. Khu vực này chiếm 10% tổng diện tích sảnh.
-Khu reception: gồm bàn tiếp tân và các nhân viên tiếp tân, là nơi tiếp khác, giới thiệu và hướng dẫn bệnh nhân cũng như người bệnh những thông tin cần thiết.
Khu vực nảy chiếm 20% tổng diện tích sảnh.
-Khoảng không gian còn lại chiếm 50% tổng diện tích sảnh là lối đi rộng để có thể dễ dàng vận chuyển bệnh nhân và các trang thiết bị y tế cần thiết có kích cỡ lớn và là nơi thường xuyên qua lại của rất nhiều người nên cần một khoảng diện tích lớn.
Nhận xét:
Ưu điểm: Kiến trúc sảnh có diện tích rộng rãi, có nhiều lối đi, cửa ra vào lớn nằm đối diện nhau, vách cửa chính làm hoàn toàn bằng cửa kính tạo không gian mở bên trong và bên ngoài cho cảm giác không tách biệt nhau.
Hạn chế: cột không đều nhau, hai cột ở giữa là cột đơn, hai cột hai bên là cột ghép to hơn hai cột ở giữa làm nội thất trông không được đẹp.
=> Biện pháp cải tạo: xử lý bao quanh cột thành cột tròn tạo cảm giác không quá khác biệt so với cột vuông trông sẽ đều nhau hơn và đẹp mắt hơn.
b. Khoa Nhi
b.1. Tìm hiểu chung về nhi khoa
Nhi khoa là một ngành của Y học chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho trẻ em từ lúc mới sinh cho đến 14-21 tuổi, tùy thuộc vào mỗi Quốc gia. Ở Việt Nam Nhi khoa chăm sóc sức khỏe cho trẻ em từ sơ sinh đến 16 tuổi.
Sự khác biệt giữa y học người lớn và nhi khoa:
Nhi khoa khác biệt với Y học người lớn về nhiều lĩnh vực. Sự khác biệt về kích thước cơ thể tương ứng sự khác biệt về sự trưởng thành. Cơ thể nhỏ của một trẻ em hoặc một trẻ sơ sinh khác biệt cơ bản về mặt sinh lý so với người lớn. Các dị tật bẩm sinh, khác biệt về di truyền và các vấn đề về sự phát triển là những vấn đề được các bác sỹ Nhi khoa quan tâm nhiều hơn so với các bác sỹ của người lớn.Điều trị cho trẻ em không giống điều trị bệnh cho một người lớn thu nhỏ. Sự khác biệt lớn giữa Nhi khoa và y học người lớn là trẻ em còn nhỏ và trong hầu hết các trường hợp không thể tự quyết định. Phải luôn luôn quan tâm đến các biện pháp bảo vệ, sự riêng tư, trách nhiệm pháp lý và sự tán thành bằng văn bản trong mọi thủ thuật Nhi khoa. Bác sỹ Nhi khoa thường phải đối xử với cha mẹ của bệnh nhân và thỉnh thoảng với gia đình của bệnh nhân hơn là chính đứa trẻ.
b.2. Nội thất trong khoa nhi
Có một sự thật rằng, hầu hết các bệnh viện nhi đồng ở Việt Nam hiện nay nói chung và khoa nhi của bệnh viện đa khoa nói chung đều chưa tạo được một bầu không khí ấm cúng, gần gũi với trẻ em, chưa mang đậm nét riêng của trẻ thơ mà chỉ mang tính chất chung chung, giống với khuôn khổ của những khoa khác chưa tạo cảm giác khác biệt, đặc trưng riêng cho khoa nhi.
Nét khác nhau giữa nội thất nơi khám chữa bệnh cho trẻ em với khám chữa bệnh người lớn đó là: người lớn cần một không gian bình thường, không cần phải quá nhiều thứ bởi vì người lớn có thể thích nghi được với mọi điều kiện nội thất, ngược lại trẻ em cần một bầu không khí gần gũi, vui vẻ để có thể quên đi những mệt mỏi, những nỗi sợ hãi khi đến khám chữa bệnh, cần phải nắm bắt được tâm lý của trẻ để có thể thiết kế thành công một không gian khám chữa bệnh cho trẻ.
Một số hình ảnh nơi khám chữa bệnh dành cho trẻ
b.2.1. Không gian khám nội nhi
Mặt bằng tầng 2 Diện tích: 113m2
Gồm các khu vực:
- Khám tổng quát
- Khám răng – hàm – mặt - Khám mắt
Nhận xét:
Ưu điểm: Có diện tích xuyên suốt rộng rãi, kết nối với phía ngoài bằng những ô cửa sổ tạo một không gian mở không tách biệt quá với bên ngoài, không có cột chắn giữa.
Hạn chế: vì là khoa nhi nên mọi hoạt động của trẻ bên trong phòng khám cần được phụ huynh kiểm soát mà ở đây chưa làm được điều đó, chính xác là vách tường ngăn giữa khu khám và lối đi không nên bị bịt kín vì sẽ cảm thấy ngộp và không thoải mái.
=> Biện pháp cải tạo: Thay mảng tường thành vách kính rộng, cao để phụ huynh có thể quan sát trẻ từ bên ngoài, khi trẻ ở bên trong nhìn ra ngoài thấy bố mẹ cũng yên tâm hơn, không có cảm giác sợ hãi
b.2.2. Không gian điều trị nội trú nhi một giường bệnh
Đây là không gian trẻ nằm chờ điều trị và hồi phục sức khỏe, càng cần phải tạo cảm giác ấm áp, gần gũi với trẻ để trẻ có tinh thần mau hết bệnh.
Mặt bằng tầng 2 Diện tích: 22m2
Gồm các thành phần:
- Giường bệnh
- Chổ ngồi nghỉ cho phu huynh - Một góc chơi cho trẻ
- Nhà vệ sinh
Mặt bằng bố trí
Nhận xét:
- Ưu điểm: diện tích đủ rộng cho một giường bệnh để bệnh nhân đặc biệt có thể cảm thấy thoải mái nhất, có ban công hường ra ngoài tạo cảm giác thông thoáng – là một điều hết sức cần thiết cho một người bệnh.
- Hạn chế: cũng như khu khám nội nhi, cần phá bỏ bức tường ngăn cách đi để bác sĩ cũng như phụ huynh nhìn từ bên ngoài có thể biết được tình hình của trẻ, một điều nữa, muốn phá bỏ bức tường thì cần phải dời nhà vệ sinh đi vì nhà vệ sinh nằm ngay cửa ra vào.
=> Biện pháp cải tạo:
Dời nhà vệ sinh qua phía bên cửa ra vào ban công ( theo kiến trúc, phần ở giữa trần và sàn là một khoảng không gian dành cho các đường ống nước và đường đây điện, đường ống nước có thể bẻ sang một hướng khác mà không ảnh hưởng đến đường ống của những tầng khác, những tầng khác vẫn có thể giữ nguyên đường ống nước dẫn lên nhà vệ sinh như ban đầu), sau đó là thay mảng tường ngăn cách giữa lối đi và phòng bệnh bằng một tấm kính cao rộng để bác sĩ và phụ huynh có thể dễ dành quan sát tình hình của trẻ từ bên ngoài.
c. Không gian căn tin c.1.Khái niệm về căn tin
Căn-tin là một loại địa điểm dịch vụ chuyên cung cấp đồ ăn, thức uống cho các thực khách trong quá trình chờ đợi và thường là một nơi phục vụ ăn uống cho các nhân viên trong các tòa nhà văn phòng hoặc trường học, bệnh viện, thư viện, công sở hoặc một cơ quan. Trong căn tin, khách hàng có thể tự phục vụ hoặc được phục vụ tùy theo mỗi loại căn tin. Giá cả ở căn tin thường thấp hơn so với các nhà hàng ở bên ngoài, đồ ăn, thức uống cũng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm so với các quán cơm bụi hay thức ăn đường phố.
Căn tin giống như là loại hình kết hợp giữa các quán ăn và quán cà phê, nơi mà khách hàng vừa ăn uống lại vừa có không gian thư giãn, trò chuyện. Khách hàng ở căn tin thường là khách quen hoặc chính là những người làm việc trong tòa nhà đó hoặc học sinh, sinh viên trong trường chứ không đơn thuần là khách đại trà. Đối với
các bạn học sinh, sinh viên, Căn tin là một địa điểm không xa lạ, các mặt hàng phong phú, đa dạng, hấp dẫn ngon lành được bày bán đều nhằm mục đích cung cấp nguồn năng lượng sau những giờ học mệt mỏi, căng thẳng trên lớp và cũng là địa điểm trò chuyện, tụ tập, sinh hoạt của các bạn.
Mặt bằng tầng 3 c.2. Không gian thiết kế
Diện tích: 348m2 Gồm các thành phần:
- Nhà bếp - Phòng ăn lớn - Phòng ăn VIP - Nhà vệ sinh
Nhận xét:
- Ưu điểm: Không gian rộng lớn có thể chứa được nhiều người, không gian phân chia, ngăn cách rõ ràng, nội thất không bị vướng bởi cột.
- Hạn chế: Nhiều cửa sổ nhưng sẽ tạo cảm giác không thật thoải mái với bên ngoài, cách sắp xếp và tạo hình bàn ghế vẫn chưa đặc sắc.
=> Biện pháp cải tạo: Làm thành một ổ cửa sổ lớn nằm hai bên cửa ra vào tạo một cảm giác thông thoáng, tạo thành một không gian mở kết hợp với thiên nhiên bên ngoài như bên trong và bên ngoài hòa nhập làm một, sắp xếp và tạo hình lại các vật dụng.