Các chỉ tiêu, tiêu chuẩn sử dụng trang thiết bị, vật dụng, cơ sở hạ tầng

Một phần của tài liệu kl huynh the nguyen 2014 (Trang 32 - 46)

Chương II: NHIỆM VỤ THIẾT KẾ

II.2. Các chỉ tiêu, tiêu chuẩn sử dụng trang thiết bị, vật dụng, cơ sở hạ tầng

- Bệnh viện chuyên khoa phải có từ 21 giường bệnh trở lên. Riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt sử dụng công nghệ kỹ thuật cao thì phải có từ 10 giường bệnh trở lên;

- Tổ chức, nhân sự phải phù hợp với quy mô của bệnh viện; người làm công việc chuyên môn phải bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định tại mục VIII của Thông tư này;

- Phải thực hiện Quy chế bệnh viện và các quy định về chuyên môn kỹ thuật y tế do Bộ Y tế ban hành;

- Phải bảo đảm vệ sinh thông thoáng, thuận tiện cho người bệnh đi lại, có sân chơi, chỗ để xe, trồng cây xanh. Nếu bệnh viện xây dựng trong đô thị phải thiết kế hợp khối, cao tầng nhưng phải bố trí các khoa, phòng hợp lý, bảo đảm điều kiện vô trùng và các điều kiện vệ sinh môi trường theo quy định;

- Có giấy chứng nhận về phòng cháy chữa cháy; giấy chứng nhận đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải; có hợp đồng xử lý rác y tế hoặc có lò đốt rác y tế, rác sinh hoạt; có giấy phép sử dụng máy X.Quang y tế (nếu có máy X.Quang);

- Diện tích sử dụng trung bình: 50 - 60m2 sàn / giường bệnh;

- Phải bảo đảm hoạt động chuyên môn theo mô hình tập trung, liên hoàn, khép kín trong phạm vi khuôn viên của bệnh viện;

- Bệnh viện phải có đủ: Khoa khám bệnh - cấp cứu - lưu bệnh, các khoa điều trị, các khoa cận lâm sàng và khoa dược;

- Khoa phẫu thuật, gây mê hồi sức phải bố trí các phòng phẫu thuật liên hoàn một chiều, hợp lý, phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đã đăng ký.

- Phòng phẫu thuật cấp cứu, phòng phẫu thuật vô khuẩn, hữu khuẩn, phòng phẫu thuật của chuyên khoa tai - mũi - họng, răng - hàm - mặt, mắt, phụ sản, nội soi, phòng tiểu phẫu, sinh đẻ có kế hoạch phải bảo đảm diện tích trung bình: 25- 30m2/phòng; có lát gạch lát sàn nhà và gạch men hoặc vật liệu chống thấm bảo đảm vệ sinh vô trùng ốp tường sát trần nhà;

- Có đủ các phòng tiếp nhận người bệnh, tiền mê, hồi tỉnh, khu vệ sinh và các phòng khác theo quy định;

- Các khoa, phòng bệnh trong bệnh viện phải có chiều cao không dưới 3,1m.

- Trang thiết bị y tế từng khoa của bệnh viện phải đáp ứng điều kiện chuyên môn và ít nhất phải tương đương với tuyến huyện theo quy định tại Quyết định số 437/2002/QĐ-BYT ngày 20/02/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành

“Danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản”.

Chương III:

PHƯƠNG ÁN BỐ CỤC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NỘI THẤT

III.1. Trình bày cách thức tổ chức sáng tác (thiết kế):

- Tìm hiểu về nguyên lý thiết kế Bệnh viện. Dựa trên tất cả những tài liệu liên quan và đáng tin cậy như sách Neufert dành cho kiến trúc sư , TCVN IV và 1 số sách chi tiết nội thất. Dữ liệu nghiên cứu về bệnh viện. Các nghiên cứu mới nhất về xu hướng thiết kế nội thất bệnh viện.

- Sau bước đầu tiếp cận và tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, tôi đã có những cơ sở thiết thực nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Tôi dựa trên những yêu cầu về công năng sẽ áp dụng cho bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, số lượng người bệnh sẽ, diện tích sử dụng thực tế, các yếu tố ảnh hưởng đến nội thất bệnh viện như ánh sáng, biểu kiến mặt trời,hướng nắng,chất liệu, các thông số tiêu chí thiết kế, trang thiết bị y tế… cộng với quá trình tìm ý tưởng và dựa vào các công nghệ hiện đại nhằm bố trí mặt bằng chi tiết cho phù hợp.

-Sau khi đã bố trí mặt bằng đáp ứng đầy dây chuyền công năng cơ bản và có quá trình chỉnh sửa cho hợp lí , việc phác thảo không gian bằng tay và thực hiện phác thảo trên máy tính sẽ cho kết quả mô phỏng chính xác nhất có thể về luật phối cảnh và ánh sáng . Quá trình này là thời điểm tốt nhất để áp dụng và kiểm tra những nghiên cưú về ý tưởng cho công trình.

-Dựa trên ý tưởng về thiên nhiên, về sự đặc trưng tinh tế của từng đường nét để áp dụng vào thiết kế không gian nội thất, ứng dụng vào các không gian chức năng của bệnh viện.

III.2. Mô tả phương pháp, kỹ thuật thiết kế & hoạt động nghiên cứu sáng tác Cơ sở khoa học của công tác nghiên cứu:

a. Các lý luận, quan niệm tổ chức không gian nội thất:

- Thiết kế môi trường không gian thông qua kết cấu kiến trúc và phương thức lắp đặt các thiết bị chiếu sáng, thông gió, cách âm, cách nhiệt …

- Thiết kế hình tượng thị giác của không gian, thông qua chất liệu, màu sắc và hình dáng của vật dụng và trang trí, từ đó tạo ra không gian mang tính cách điệu nghệ thuật.

- Màu sắc và ánh sáng (trực tiếp và phản chiếu trên bề mặt) tạo nên tính trang trí độc đáo, mới lạ từ đó ảnh hưởng đến tổng thể không gian.

- Các quy tắc xử lý nghệ thuật.

- Thiết kế không gian phù hợp với tỷ lệ con người, quan tâm đến cảm xúc và cảm giác.

b. Kinh nghiệm thực tế trong và ngoài nước:

- Học hỏi việc tổ chức không gian nội thất bệnh viện của các công trình nổi tiếng.

- Tham khảo việc ứng dụng các đường nét từ thiên nhiên cây, lá và nước vào nội thất.

c. Sự cần thiết đầu tư bệnh viện ở Việt Nam

- Đa số các bệnh viện ở Việt Nam hiện nay đầu tư chưa đúng mức

- Nên kinh tế ở Việt Nam đang phát triển, và việc xây dựng thêm bệnh viện đạt tiêu chuẩn và hơn thế nữa là điều vô cùng cần thiết.

- Cần phải đầu tư thêm một số bệnh viện tầm cỡ với đầu đủ những tiêu chuẩn ở những nơi không phải là trung tâm, thành phố lớn để mọi người không cẩn phải đi xa ra khỏi nơi mình đang ở.

- Cải thiện điều kiện sống của người dân trong nước và tạo được ấn tượng tốt với nước ngoài.

d. Đánh giá hiện trạng các công trình công cộng tại Việt Nam:

- Các CTCC (bao gồm bệnh viện, nhà hàng, khách sạn, bưu điện, ngân hàng, các

công trình giáo dục văn hóa, TDTT, …) là những nơi hội tụ đông người, thu hút khách tham quan du lịch và thường là những điểm nhấn cảnh quan. Tại Việt Nam, đa số CTCC (công trình từ thời Pháp hoặc là xây dựng mới) chưa được đầu tư sâu về nội thất, chưa tạo được ấn tượng.

- Riêng đối với công trình bệnh viện việc tổ chức không gian nội thất đã bắt

đầu được quan tâm và tạo được một số dấu ấn phong cách riêng. Tuy nhiên,

các bệnh viện này chủ yếu kiến trúc và nội thất còn theo khuôn khổ cứng nhắc và chưa theo một hình thức mới lạ và hiện đại, chưa có một công trình bệnh viện nào tạo được một dấu ấn riêng về kiến trúc cũng như nội thất.

1.1 Một số nghiên cứu cần thiết để thiết kế nội thất bảo tàng:

Nguyên lý bố cục hình khối không gian - cơ sở để thiết kế nội thất nói chung và đồ án nội thất bệnh viện nói riêng :

a. Khái niệm chung:

- Ngoài yếu tố công năng, liên quan đến yêu cầu sử dụng, ngoài yếu tố kỹ thuật, vật chất liên quan đến kiến thức khoa học, người thiết kế cần có sự rung cảm của tâm hồn nghệ sĩ để từ những vật thể riêng lẻ, qua nguyên lý bố cục có thể tạo ra những không gian đẹp, có giá trị, truyền cảm được thẩm mỹ đến mọi người.

- Một không gian với những khối hình, mảng đặc, rỗng, sáng, tối, với đường nét, chi tiết, chất liệu, màu sắc đã tạo nên một sắc thái rõ nét, một ấn tượng sâu đậm với con người về tính chất một cá nhân, một địa phương, một dân tộc, một quốc gia. Để có được những tác phẩm về hình khối không gian có giá trị mà tự nó có sức truyền cảm mạnh mẽ, người thiết kế phải dựa vào những nguyên tắc về bố cục để từ những vật thể vật chất đa dạng được tổ hợp theo một quy luật nào đó có thể gây được xúc cảm cho mọi người.

b. Quy luật bố cục hình khối không gian:

* Tương phản và dị biến:

- Tương phản: là sự khác biệt nhau rất rõ ràng giữa hai vật thể, hai hình thể để làm

nổi bật lên những đặc điểm của chúng. Tương phản dễ gây sự chú ý của mỗi người.

- Dị biến: là sự khác nhau không nhiều của hai hay nhiều vật thể, biến đổi dần dần từ đặc điểm này đến đặc điểm khác gây cảm xúc hài hoà.

- Tương phản và dị biến là biện pháp quan trọng để đạt được tính thống nhất và biến hoá trong nghệ thuật.

- Nếu mọi yếu tố theo một quy luật thống nhất thì dễ gây cảm xúc đều đều, buồn tẻ và khó biểu đạt chủ đề.

- Nếu mọi yếu tố chỉ theo một quy luật biến hoá thì dễ gây cảm xúc hỗn loạn, đột biến và cũng khó diễn đạt ý tưởng.

- Vậy việc kết hợp giữa tính thống nhất và tính biến hoá theo một quy luật biến hoá sẽ dễ tạo nên một tác phẩm có trọng tâm, có chủ đề nhất định.

- Qua đó ta thấy sự tương phản và dị biến thường diễn ra trong cùng một tính chất: hình khối này với hình khối kia, mảng này với mảng kia hay các loại nét với nhau, các chất vật liệu với nhau.

* Vần luật:

- Cũng là một hiện tượng thường gặp trong bố cục nghệ thuật như trong thơ ca, âm nhạc chẳng hạn. Từ những chữ, những câu, những âm sắc đơn lẻ người ta sắp xếp chúng theo một quy luật nào đó mà thông qua nó bài thơ bản nhạc biểu đạt được chủ đề mà tác giả mong muốn. Sự sắp xếp các khối hình trong không gian cao, thấp, to, nhỏ, vuông tròn … ra sao để đạt được tính thống nhất hài hoà – đó là vần luật.

- Với một công trình nội thất, sự sắp xếp các mảng đặc, rỗng, đường nét, vật liệu, màu sắc cũng theo một quy luật nào thích ứng với chính nó và tổng thể nói chung.

- Với các chi tiết trang trí bên trong, bên ngoài, thậm chí đến các đồ đạt, trang thiết bị muốn đạt được tính thống nhất hài hoà, đồng bộ cũng phải tôn trọng vần luật.Nói chung những loại vần luật như sau:

- Vần điệu liên tục: có hai loại vần điệu liên tục, đó là vần điệu liên tục đơn giản và vần điệu liên tục phức tạp.

- Vần điệu liên tục đơn giản: người ta dùng một bộ, một đơn vị các yếu tố tổ hợp rồi lặp đi lặp lại nhiều lần và liên tục. Loại vần điệu này dễ gây cảm giác đều đều, buồn tẻ và nhàm chán.

- Vần điệu liên tục phức tạp: người ta thường dùng một bộ, một đơn vị gồm hai hay nhiều yếu tố có sắp xếp phức tạp rồi lặp đi lặp lại nhiều lần và liên tục.

Loại vần điệu này dễ gây cảm giác phong phú hấp dẫn.

- Hai loại vần điệu trên có thể kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau để tạo nên một tác phẩm nội thất có tính thống nhất hài hòa mà lại phong phú.

- Vần điệu tiệm tiến: Các yếu tố vật thể sắp xếp theo quy luật biến thiên từ nhỏ tăng dần đến lớn hoặc giảm từ lớn đến nhỏ dần.Vần luật tiệm tiến có các quy luật sau đây:

Biến thiên tăng dần về một hướng.

Biến thiên tăng hoặc giảm về một trục trung tâm.

Biến thiên tăng dần hoặc giảm dần từ nhiều hướng tụ về một tâm.

Vần tiệm tiến có tác dụng để nhấn mạnh trọng tâm của công trình một cách cô đọng , tập trung vào một chủ đề tư tưởng.

- Vần giao nhau: là gồm một hay nhiều thành phần chi tiết đan xen với nhau theo một quy luật nhất định. Vần giao nhau được sử dụng:

- Chủ yếu và thứ yếu –vai trò chính và phụ:

Trong nghệ thuật, văn học, âm nhạc thường do nhiều yếu tố tạo thành – bức tranh thường có nhiều mảng, đường nét, màu sắc. Văn thơ đều có nhiều nhân vật, nhiều tình tiết câu chuyện. Âm nhạc thì lại nhiều loại tiết tấu âm thanh. Nhưng nếu tất cả đều có vai trò như nhau thì bức tranh, cuốn tiểu thuyết, bản nhạc đều không biểu đạt chủ đề, mà sẽ chung chung mờ nhạt hỗn độn. Cho nên phải có cái được tập trung diễn tả gọi là phần chủ yếu, các yếu tố khác chỉ là hỗ trợ, làm nền để tôn phần chính, đó là vai trò phụ hay thứ yếu. Cũng như vậy, trong tác phẩm nội thất cũng có phần chủ yếu và thứ yếu (ở mặt đứng, mặt bằng …).

- Vậy muốn lựa chọn một yếu tố nào để làm vai trò chủ yếu thì phải:

Tập trung nghiên cứu về khối, hình chi tiết, biểu đạt ý đồ chủ đạo vào phần chủ yếu (chính), các phần thứ yếu phải phụ thuộc hỗ trợ vào phần chủ yếu để làm nền tôn phần chủ đạo.

Lựa chọn vị trí của yếu tố chủ yếu (chính): nó phải thực sự là điểm nhấn, lôi cuốn mọi người từ các hướng, các góc nhìn. Phần thứ yếu không che khuất phần chủ yếu hoặc làm sai lệch ý đồ chủ đạo.

Xác định được hình khối, đường nét điển hình nhất, cô đọng nhất, biểu tượng được

đặc điểm tính cách của toàn bộ tác phẩm.

- Sự liên hệ và phân cách:

Tác phẩm nghệ thuật thường do nhiều yếu tố tạo thành. Các yếu tố đó thường có những đặc điểm, tính chất khác nhau, được bố trí theo quy luật nào đó. Song nếu nó nối tiếp nhau theo một chuỗi dài thì dù theo quy luật bố cục nó cũng gây cảm giác mệt mỏi, nhàm chán. Ngược lại, nếu ngắt ra những phân cách quá mức sẽ gây nên cảm giác rời rạc, biệt lập. Vì vậy, để tác phẩm được hoàn chỉnh, tác giả phải điều chỉnh mối quan hệ giữa các yếu tố theo quy luật liên hệ và phân cách nhằm đạt được sự thống nhất, hài hòa của tác phẩm.

c. Sự chuyển động và cân bằng ổn định trong bố cục tạo hình:

Tất cả mọi vật tồn tại được trong thiên nhiên đều phù hợp với quy luật trọng lượng.

Chúng đều có một thế đứng cân bằng và ổn định. Đây là bản chất của tính thống nhất trong tự nhiên, đó cũng là tính hợp lý trong nguyên lý thẩm mỹ tạo hình nói chung.

- Chuyển động:

Con người luôn chịu ảnh hưởng của trọng lực và nhận thức vật thể thể hiện trên hệ quy chiếu 3 chiều: trên- dưới, trước- sau, phải-trái.

Trên dưới và phải trái là trục thăng bằng con người. Giác quan cảm nhận luôn có sự so sánh vật thể với trục thăng bằng này.

Trước- sau: phản ánh sự cảm nhận về chiều sâu của không gian.

Vậy chuyển động trong tạo hình là hiệu quả cảm nhận thị giác có được thông qua việc bố cục các yếu tố tham gia tạo hình có sự biến đổi chiều hướng hay bản thân một yếu tố có trục kiến trúc biến đổi. Trong thiết kế tạo hình để đạt được giá trị thẩm mỹ chứa đựng nội dung hấp dẫn, người ta thường vận dụng các quy luật của nhận thức thị giác về sự chuyển động vào việc bố cục các thành tố, nghĩa là các thành tố phải phân bố sắp xếp theo một vị trí nào đó hoặc bản thân các thành tố đó có cấu trúc biến đổi, có chiều hướng tạo nên chuyển động.

Một số các tổ hợp bố cục tạo hình mang lại hiệu quả chuyển động:

1. “Động” do tạo tương quan giữa các yếu tố:

1.1. Các yếu tố ngang: hàm chứa sự tĩnh tại, nhưng khi so sánh với trụ các yếu tố

không bằng nhau tạo nên “động”.

1.2. Các yếu tố đứng: đạt sự cân bằng nhưng hàm chứa “động” thế năng.

1.3. Yếu tố nghiêng: biểu hiện trạng thái động. Các biểu hiện tư thế của vật thể nhờ vào đường cong hoặc trục, đây cũng được hiểu là “động” do thế năng.

2. “Động” do tạo sức thu hút: trong đó sắp xếp tạo bố cục hoặc làm cho một yếu tố có cấu trúc biểu hiện:

2.1. Tính tương phản cao 2.2. Sự khác biệt về bề mặt.

2.3. Do “hình thức” của vật.

2.4. Do vị trí tương quan giữa phông-hình.

2.5. Vị trí chú ý.

2.6. Hiệu ứng “động” của yếu tố tĩnh.

3. Hiệu ứng “động” do dùng cách biểu hiện và liên tưởng:

Ví dụ: bức tranh sóng biển của Kanagawa.

Hiệu ứng động trong bố cục của chúng có thể là tổ hợp của nhiều cách trên.

4. “Động” do tạo bố cục chuyển động của mắt trong tác phẩm tạo hình:

Tuỳ thuộc vào bố cục điều tiết hướng của mắt mà yếu tố “động” có thể hình thành và mang trạng thái động. Bố cục của tác phẩm tạo hình phải sao cho chuyển động của mắt được khép kín, có tâm điểm và có ý nghĩa nội tại.

Để làm đƣợc điều này cần có 2 yếu tố:

Khoảng cách giữa các thành phần hợp lý.

Lực hấp dẫn ở trọng tâm đủ mạnh để cân bằng với xung quanh và tạo sự biến đổi.

- Cân bằng ổn định: là trạng thái của một bố cục tạo hình ở thể tồn tại bền vững.

Cân bằng và ổn định trong nội thất cũng là yếu tố dùng để so sánh, dùng để nhấn mạnh trọng tâm của công trình. Nó góp phần biểu đạt ý đồ tư tưởng của tác giả qua tác phẩm nội thất.

1. Cân bằng đối xứng: gây cảm giác nghiêm trang, hoành tráng, thường áp dụng trong kiến trúc cổ như đình chùa, nhà thờ, trụ sở chính quyền, cơ quan pháp luật, nhà Quốc hội … Có 2 hình thức cân bằng đối xứng:

Một phần của tài liệu kl huynh the nguyen 2014 (Trang 32 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(68 trang)