TRUNG 38 CHệễNG 5 TÍNH TOÁN KINH TẾ CỦA HTXLNT TẬP TRUNG KCN TÂY BAÉC - CUÛ CHI
5.2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ Ý NGHĨA KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TÁC BVMT KCN
Nói chung, khi đầu tư xây dựng hệ thống XLNT tập trung, nhà đầu tư tương đối tốn nhiều tiền nhưng điều này lại rất cần thiết bởi lẻ những hành động thiết thực như vậy không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn tác động tích cực đến kinh tế và xã hội.
5.2.1 Về mặt kinh tế
Ảnh hưởng tới thương hiệu của nhà sản xuất mà còn của khu công nghiệp. đến vị thế của khu công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước.
Hoạt động kinh tế của huyện Củ Chi sẽ dần dần đi vào ổn định, tạo điều kiện phát triển bền vững. Việc ổn định về kinh tế sẽ dẫn đến sự ổn định về chính trị trong vùng nói riêng và cả khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
Mang lại ý nghĩa kinh tế rõ rệt cho cả khu công nghiệp vì đó chính là sự tuân thủ luật pháp.
Với việc quan tâm sâu sắc tới môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất, dịch vụ của khu công nghiệp đã tạo tiền đề cho việc thu hút đầu tư nước ngoài. Từ đó, hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Điển hình như việc xuất khẩu các loại hải sản của Việt Nam không chỉ có sự cạnh tranh giữa những nước xuất khẩu hải sản mà còn có sự cạnh tranh trong nội địa nước đó. Những sản phẩm đảm bảo chất lượng cũng như công tác bảo vệ môi trường nơi sản xuất sẽ được nhiều nước quan tâm và đặt hàng.
Khi mở rộng quy mô của khu công nghiệp thì cũng dễ dàng xin vay vốn của ngân hàng nhà nước. Vì trong chính sách hổ trợ vay vốn của ngân hàng có quy định sẽ ưu tiên hổ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường. Không những thế, các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp cũng có lợi thế trong
việc hổ trợ vay vốn. Vì chính các doanh nghiệp này là đối tượng gián tiếp thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp .
Ngoài ra, với việc đầu tư xây dựng trạm XLNT tập trung cũng đã đặt ra vấn đề về sự phát triển bền vững của KCN, tạo sự an tâm cho nhà đầu tư và góp phần chia sẻ gánh nặng cho các cơ quan quản lý về vấn đề môi truờng hiện nay.
Nói tóm lại, với thực hiện đúng đắn công tác BVMT không chỉ là trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà đầu tư mà còn mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực.
5.2.2 Về mặt xã hội
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các công nhân viên đang làm việc trong các cơ sở sản xuất của KCN. Đây cũng chính là một cách thức tuyên truyền trong chương trình nhận thức cộng đồng mà các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đang thực hiện.
Tạo thiện cảm cũng như sự yêu mến của của quần chúng nhân dân sống xung quanh KCN.
Được sự nhất trí ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường huyện cũng như của thành phố.
Do đa số dân cư xung quanh làm nông nghiệp và thường xuyên tiếp xúc với nước sông. Vì vậy, với việc nước thải xả ra đạt tiêu chuẩn cho phép sẽ không gây ra các chứng bệnh ngoài da và một số bệnh khác cho những người dân tiếp xúc với nước xả ra kênh.
Ý nghĩa sâu xa là giảm gánh nặng cho nhà máy nước Tân Hiệp trong việc xử lý nước và cung cấp nước sạch cho người dân thành phố. Vì nước xả ra từ KCN không đảm bảo chất lượng nước đầu vào của nhà máy nước Tân Hiệp. Như đã nói ở trên, chế độ nước sông Sài Gòn là bán nhật triều nên cho dù điểm xả ra sông cách điểm lấy nước ở Bến Than của nhà máy nước khoảng 1 km nhưng vẫn có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, với công trình xử lý nước thải tập trung của KCN sẽ góp phần ổn định chất lượng nước mặt trên sông Sài Gòn. Từ đó, lượng nước sạch từ nhà máy Tân Hiệp sẽ cung cấp đầy đủ và đều hơn cho người dân thành phố.
5.2.3 Về mặt môi trường
Hình thành khu xử lý nước thải tập trung nhằm đảm bảo tiêu chuẩn xả nước ra kênh là đạt tiêu chuẩn loại A theo quy định của luật pháp, không gây ô nhiễm môi trường cho khu vực xung quanh KCN và cho cả nước sông Sài Gòn. Từ đó, tạo mỹ quan cho KCN và cả khu vực xung quanh và góp phần vào việc giữ vững sự sạch đẹp của lưu vực sinh thái.
Điều đặc biệt quan trọng là không làm thay đổi tính chất của nguồn nước trên sông Sài Gòn cũng như bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên sinh vật trên lưu vực sông.
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
• KẾT LUẬN
Các KCN phát triển rất nhanh và vững mạnh ở TPHCM đã đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế thành phố. Đồng thời, vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động của KCN cũng đặt biệt quan tâm, nhất là vấn đề nước thải. Hiện tại có 18 KCN nhưng chỉ có rất ít KCN có hệ thống XLNT tập trung với các công nghệ khác nhau. Và nhiều công nghệ hoạt động tỏ ra đạt yêu cầu theo quy định. Tuy nhiên, nhiều KCN vẫn chưa có hoặc đang trong giai đoạn đầu tư thiết kế trạm XLNT.
Theo quy định trong các điều khoản của pháp luật (Nghị định số 36/CP ngày 24/04/1997 của Chính Phủ ), tất cả các KCN đều phải có trạm XLNT. Vì thế, việc đầu tư, thiết kế, xây dựng và lắp đặt là bức xúc và cần thiết phải được thực hiện.
Luận văn đã đề xuất công nghệ XLNT tập trung với trường hợp cụ thể là KCN Tây Bắc - Củ Chi, TPHCM. Công nghệ đề xuất ở đây được tóm tắt như sau:
• Xử lý cơ học bao gồm song chắc rác, hầm bơm, đều hòa lưu lượng và nồng độ.
Ngoài ra, khi có sự cố thì nước thải sẽ đưa qua khâu keo tụ tạo bông và lắng.
• Xử lý sinh học từng mẻ - SBR và khử trùng
• Xử lý bậc cao bằng kênh thực vật - lục bình
• Xử lý bùn - bể nén bùn
Và chất lượng đầu ra phải đạt tiêu chuẩn 6984 – 2001, cột 2 và tiêu chuẩn 5945 – 1995 (loại B).
Trong công nghệ XLNT tập trung, hệ thống xử lý sinh học từng mẻ - SBR được chọn là rất phù hợp và khả thi đối với công nghệ XLNT KCN Tây Bắc Củ Chi.
Tóm lại, một đất nước phát triển về kinh tế thì phải duy trì trạng thái bền vững tự nhiên, không thể đi ngược lại các quy luật tự nhiên và gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng tiết kiệm, xử lý có hiệu quả nước thải cũng góp phần làm cho môi trường tốt hơn, đảm bảo an toàn sự sống và phát triển của toàn nhân loại.
• KIẾN NGHỊ
Công nghệ đề xuất có thể làm cơ sở tham khảo để tinh toán thiết kế trạm XLNT tập trung của các KCN tương tự khác.
Việc đầu tư xây dựng và mua thiết bị phải đồng bộ để không ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý của trạm, cũng như niên hạng của trạm.
Trong quá trình vận hành hoạt động, luôn cần thiết phải đo đạt, quan trắc hiệu quả xử lý của từng công trình đơn vị để điều chỉnh cho phù hợp.
Cần thiết phải đào tạo chuyên viên vận hành tay nghề cao để bảo đảm vận hành đúng yêu cầu kỹ thuật quy định.