Phương pháp phân tích nguyên nhân tai n ạn lao động

Một phần của tài liệu kl ho dac hien hien 811306b (Trang 42 - 51)

3.1. Các phương pháp phân tích TNLĐ

3.1.2. Phương pháp phân tích nguyên nhân tai n ạn lao động

khác nhau. Với thợ điện lành nghề thì nhờ có những kinh nghiệm bản thân nên nếu có xảy ra tai nạn điện thì tổn thất tai nạn có khả năng ở mức độ hạn chế hơn là tổn thất xảy ra cho thợ điện tập sự.

Tai nạn lao động (TNLĐ) là hành động xảy ra không nằm trong sự mong muốn của con người, hậu quả để lại là những thương tật, mất mát và sự khủng hoảng tâm lý.

Chính vì thế, con người luôn tìm mọi cách cải thiện điều kiện làm việc, cải tiến công nghệ nhằm giảm thiểu TNLĐ đến mức thấp nhất. Chúng ta thừa nhận rằng tai nạn là không do sự ngẫu nhiên, sự rủi ro mà mỗi kết quả ấy đều có nguyên nhân của chúng.

Mục đích chính của việc phòng ngừa tai nạn chính là đi tìm nguyên nhân gây ra để tìm cách xử lý chúng có hiệu quả nhất.

Trong phân tích các TNLĐ cụ thể chúng ta đã tìm ra một số nguyên nhân. Tuy nhiên những nguyên nhân đã thấy này được khắc phục nhưng những nguyên nhân khác, những nguyên nhân chưa được phát hiện sẽ tiếp tục gây TNLĐ. Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm cho số TNLĐ năm sau cao hơn năm trước. TNLĐ là một kết quả được phát sinh từ nhiều yếu tố kết hợp, thiếu một hay vài yếu tố trong tập hợp các yếu tố trên thì không thể xảy ra TNLĐ. Với quan điểm này nếu triệt tiêu hết tất cả các yếu tố gây tai nạn thì phương pháp hiệu quả nhất là phải tìm hiểu tận gốc, nguyên nhân sâu xa.

a. Quan niệm về tai nạn lao động của người xưa

Lao động là nhu cầu không thể thiếu của con người từ xa xưa. Lao động với con người không chỉ tao cơm ăn áo mặc mà với họ lao động còn để mở mang tri thứcvà để thỏa mảng những ham muốn thỏa đáng. Trước đây người sử dụng lao động (NSDLĐ) và cả người lao động (NLĐ) luôn xem TNLĐ là rủi ro ngẫu nhiên. Với tư cách thụ động chấp nhận đó TNLĐ chính là điều tất yếu cảy ra không sớm thì muộn, tuân theo triết lý “sinh nghề tử nghiệp”, không thể tránh khỏi. Một khi chấp nhận công việc, NLĐ phải tự nguyện chấp nhận những rủi ro, thương tật gắn liền với nghề ấy và chết dần theo thời gian. Ví qua câu ca dao:

“Cao su đi dễ khó về Khi đi trai tráng khi về bủng beo”

Luôn bị giới chủ bốc lột sức lao động, không chú ý quan tâm đến an toàn, sức khỏe NLĐ;TNLĐ xảy ra thường đa số các ông chủ đổ trách nhiệm và cho đấy là “họa

Biểu đồ 2: Nguồn gốc tai nạn của Heinrich 88%

10% 2%

vô đơn chí” NLĐ phải có trong suốt quá trình. Nếu có bồi thường chỉ là thương hại hay bố thí. NLĐ không có tiếng nói riêng cua mình.

b. Cách nhìn nhận về nguyên nhân tai nạn lao động trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có nhiều thuyết khác nhau về nguồn gốc TNLĐ, trong mỗi thuyết sự phân tích về nguyên nhân TNLĐ đều khác nhau nhưng chúng không đối nghịch nhau mà ngược lại còn có mối tương đồng, bổ sung cho nhau, cùng đi tìm hướng giải quyết để giảm thiểu số vụ TNLĐ. Sau đây là một số thuyết cụ thể của các nhà nghiên cứu:

Heinrich và các đồng nghiệp đã nghiên cứu, phân tích dựa vào 75 .000 vụ tai nạn công nghiệp và đưa ra kết luận về nguyên nhân gây tai nạn:

Lý thuyết Domino của Heinrich

88%: Hành động không an toàn của công nhân

10%: Điều kiện lao động không an toàn

2%: Tai nạn không thể tránh được

Thuyết Domino của Heinrich là sự tương tác làm đổ dây chuyền trong một dãy Domino (khi một yếu t ố bị đổ sẽ làm cả dãy đổ theo) và nhóm 5 nhân tố về nguyên nhân gây ra tai nạn . Lý thuyết này cho rằng một loạt tai nạn giống như một chuỗi 5 con cờ Domino cái này thúc đẩy cái kia đó là (1) một thương tật gây ra bởi (2) một tai nạn, ngược lại tai nạn là do (3) thao tác hoặc điều kiện lao động không an toàn đến lượt nó do (4) các đặc điểm ngoài ý muốn (như sự cẩu thả, sự căng thẳng, thiếu kiến thức, tính tình nóng nảy) phát sinh từ (5) môi trường và xã hội.

Nguồn gốc môi trường – Xã hội: là sự thiếu thận trọng, bướng bỉnh, hám lợi.

Môi trường có thể gây ra khuyết điểm của con người.

Khuyết điểm của con người và các đặc điểm ngoài ý muốn: các khuyết điểm được kế thừa hay phạm phải của cá nhân: thiếu thận trọng, tính bạo hành căng thẳng, kích động, không cẩn thận trong việc thực hiện các quy tắc an toàn… tạo thành lý do cho hành động không an toàn.

Thao tác không an toàn hay nguy hiểm về cơ học hoặc vật lý học: là thể hiện sự không an toàn của cá nhân như: đứng trước tải trọng nặng, khởi động máy mà

không chú ý, tháo bỏ phần bảo vệ khi sữa chửa mà không lắp ráp lại khi hoàn thành, các nguy hiểm về cơ học và lý học như bánh răng không bảo vệ, điểm hoạt động không bảo vệ, không bảo đảm ánh sáng… là hậu quả trực tiếp gây tai nạn.

Tai nạn: các sự việc như ngã người, va đập do các vật bay… là các tai nạn điển hình gây ra thương tật là kết quả do hành động không an toàn hay nguy hiểm.

Thương tật: vết nứt, xước, gãy,… là các vết thương do tai nạn gây ra.

Hình 3. Năm nhân tố trong chuỗi tai nạn liên tiếp của Heinrich

Hình 4. Lý thuyết Domino của Heinrich về nguyên nhân tai nạn Heinrich đã biểu trưng năm nhân tố về nguyên nhân gây ra TNLĐ bằng năm quân cờ trong đó các quân cờ được sắp ở vị trí nhất định, theo trình tự của các nhân tố gây tai nạn. Chúng ta phải hiểu rằng thương tật có thể xảy ra do hoạt đ ộng nhân tố

trước kéo theo nhân tố sau và sẽ xảy ra tai nạn dẫn đến thương tật và chấn thương.

Heinrich cảm thấy rằng thao tác không an toàn liên quan đến tai nạn nhiều hơn điều kiện không an toàn do đó quan điểm của ông về việc phòng chống tai nạn tập trung vào thao tác không an toàn và các yếu tố liên quan đến con người. Khi chúng ta tập trung loại bỏ thao tác không an toàn thì chúng ta có thể ngăn chặn việc đổ dây chuyền của các quân cờ khi đã loại bỏ được yếu tố quan trọng nhất vì nó là trung tâm của nguyên nhân gây tai nạn theo lý thuyết Domino của Heinrich.

Thao tác không an toàn bao gồm:

• Không sử dụng trang bị bảo hộ đã được cấp phát.

• Cách thức cầm nắm một vật (do vật nhọn hoặc trơn tuột, cầm không chắc, nâng một vật lên cao,….)

• Không dùng dụng cụ, thiết bị thích hợp khi lao động.

• Các chuyển động nguy hiểm trong quá trình lao động (chạy, leo cao, ném vật….)

• Đùa giỡn trong lúc làm việc.

Điều kiện làm việc không an toàn bao gồm:

• Bộ phận bảo vệ an toàn không làm việc hiệu quả.

• Không có bộ phận bảo vệ an toàn nào cả.

• Lố đi chật hẹp vướng víu.

• Thiết bị, máy móc có khiếm khuyết.

• Quần áo không thích hợp với công việc.

• Chiếu sáng, thông gió chưa đạt yêu cầu….

H.W. Heinrich nhận ra rằng chính con người gây ra đa số các tai nạn chứ không phải chỉ do điều kiện.

Thuyết của Ferrel khẳng định rằng các tai nạn là kết quả của một loạt các nguyên nhân của sự cố ban đầu và sai sót là do con người tạo ra.

Lý thuyết “Mô hình sai sót do lỗi con người” của Ferrel

Có 3 tình huống gây sai sót này:

• Quá tải – ghép đôi giữa t ải trọng và công suất của con người vào thời điểm hoạt động.

• Cá nhân phản ứng không đúng đắn với tình huống.

• Hoạt động không thích hợp.

Khi vận hành một hệ thống lao động thì việc bảo đảm an toàn cho người lao động tránh những tai nạn do sự cố máy móc luôn được đặt lên hàng đầu. Song trong thực tế người ta không thể hoàn toàn loại bỏ những tai nạn rủi ro mà chỉ có thể hạn chế tới mức có thể những sự cố có thể xảy ra của máy móc thiết bị. Qua phân tích các tai nạn, người ta nhận thấy tai nạn thường xảy ra do những sai phạm của người lao động hoặc xử lý nhầm, xử lý không phù hợp với tình huống, đánh giá sai những hiện tượng vật lý, thiếu hiểu biết, chủ quan hay bị sốc.

Những xử lý sai của con người thường dẫn đến tổn thương nghiêm trọng cho con người, cơ sở vật chất và môi trường. Sai sót của con người thể hiện sự khởi đầu của tai nạn.

William Haddon cho rằng nhiều tai nạn và thương tật liên quan đến việc chuyển hóa năng lượng. Đối tượng, biến cố hoặc môi trường tương tác với con người đã minh họa ý tưởng này: hỏa hoạn, bão tố, vật bắn ra, xe cộ, các dạng bức xạ khác nhau và nhiều loại khác tạo ra thương tật và bệnh tật rất đa dạng. Lý thuyết năng lượng cho rằng liều lượng năng lượng, phương tiện chuyển hóa năng lượng và tốc độ chuyển hóa có liên quan đến thể loại và độ nghiêm trọng của thương tật cho nên đôi lúc người ta gọi nó là lý thuyết phóng thích năng lượng vì tốc độ phóng thích là một thành phần quan trọng. Haddon đề nghị 10 chiến thuật để phòng tránh và giảm thiểu mất mát thiệt hạinhư sau:

Lý thuyết năng lượng

 Phòng tránh sự tập trung năng lượng: mục tiêu là không tạo ra năng lượng hoặc chuyển nó thành dạng không có khả năng gây tai nạn.

Ví dụ: Không chế tạo thuốc súng, thay thế chất nguy hiểm bằng một chất an toàn hơn,….

 Giảm lượng năng lượng tập trung: ví dụ như nên chạy xe tốc độ thấp, giảm liều lượng hoặc độ tập trung chất có năng lượng cao hoặc chất độc, giới hạn độ cao của vật được nâng lên và giảm tốc độ của máy đến cực tiểu khi cần bảo trì hay lau chùi.

 Phòng tránh sự giải phóng năng lượng: ví dụ sử dụng các phương tiện và thiết bị nhằm đề phòng trường hợp thang máy rơi, cháy do đánh lửa, công trình bị xói lở do bị ăn mòn….

 Cải thiện tốc độ năng lượng phóng thích hoặc cải thiện sự phân bố không gian của năng lượng phóng thích. Ví dụ: làm chậm tốc độcháy của một chất, sử dung bộ phận hãm, giảm độ dốc con đường….

 Cách ly theo không – thời gian loại năng lượng phóng thích có thể gây thiệt hại cho công trình hoặc có thể làm bị thương con người. Ví dụ: phân chia đường lưu thông cho xe cộ và người đi bộ trong công trình, nhà máy; đặt các ổ cắm điện ngoài tầm với, sử dụng đèn tín hiệu trong lưu thông và sử dụng loại vật liệu hấp thu năng lượng.

 Cách ly năng lượng phóng thích khỏi công trình hoặc con người bằng cách đặt rào chắn. Ví dụ như kính an toàn, bộ lọc hoặc vỏ bọc chất phóng xạ, con lương trên xa lộ, bộ cách nhiệt và thiết bị chống nổ.

 Cải tiến bề mặt công trình tiếp xúc với con người và với công trình khác.

Ví dụ: các dụng cụ cầm tay phải được làm tròn các góc, làm cùn các cạnh nơi thường tiếp xúc với tay chân….

 Tăng cường cho cấu trúc hoặc con người dễ bị phá hủy. Ví dụ: xây dựng các tòa nhà chống cháy và chống động đất, tổ chức huấn luyện nhân viên, tiêm phòng bệnh tật….

 Dò nhanh độ thiệt hại. Ví dụ: hệ thống dò nhiệt và phun nước để ngăn chặn việc truyền lan cơn hỏa hoạn.

 Trong suốt thời gian từ khi bị thiệt hại đến lúc trở lại tình trạng bình thương, dùng các biện pháp để phục hồi điều kiện ổn định. Ví dụ: sự hồi phục của công nhân bị thương và sửa chữa xe cộ hư hỏng.

Haddon cho rằng mô hình phòng chống song song tốt hơn mô hình nối tiếp của Heinrich, mô hình song song bao gồm nhiều tác động thực hiện cùng một lúc không có cái nào ưu tiên và bất cứ giải pháp nào phòng tránh được thiệt hại cũng đều thỏa mản.

Mô hình hệ thống dựa trên sự phân chia hệ thống thành các bộ của nó, sau đó kiểm tra các bộ phận này và các mối liên hệ qua lại giữa chúng một cách chi tiết. Hệ thống gồm có 3 thành phần: Con người – máy móc – môi trường. Khi thay đổi bất kỳ thành phần nào hay mối quan hệ qua lại đó có thể xảy ra tai nạn.

Lý thuyết về “Mô hình hệ thống” của Ferenzen

Theo Ferenze, 5 nhân tố sau giúp con người ra những quyết định đúng và có những tính toán hợp lý:

• Các yêu cầu về công việc.

• Khả năng của công nhân và những hạn chế của họ liên quan tới công việc.

• Điều gì sẽ đạt được nếu chúng ta tiến hành nhiệm vụ và thành công.

• Hậu quả là gì nếu chúng ta tiến hành tiến hành nhiệm vụ và thất bại.

• Mất mát những gì nếu không tiến hành nhiệm vụ nào cả.

Hình 5. Mô hình hệ thống của Ferenze

“Mô hình dịch tể học” đã được Suchman đề xuất và Surry phát triển. Đây là môn học nghiên cứu về mối quan hệ của dịch bệnh và nhân tố môi trường riêng.

Lý thuyết “Mô hình dịch tể học” của suchman và Surry

Trong mô hình này các đặc tính có khuynh hướng thiên về bản chất bao gồm sự nhạy cảm sáng suốt và các nhân tố môi trường gắn với các đặc tính đánh giá sự nguy hiểm qua tiến trình nhận thức, có thể nhận biết hay tránh các yếu tố tai nạn. Đây là nội dung chính của mô hình trên.

Thuyết đã mở rộng về yếu tố vật tư, nguyên vật liệu trong hệ thống lao động

• Vật tư nguyên vật liệu, nhiên liệu: tính chất cơ, lý, hóa, độc tính….

• Môi trường lao động: nóng, lạnh, ẩm ướt, bụi, hơi khí độc….

Tất cả các yếu tố này ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm đầu ra.

Petersen đã điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh thuyết “Mô hình sai sót do lỗi con người” và đặt tên cho mô hình này là “Mô hình sự cố tai nạn”.

Lý thuyết “Mô hình sự cố tai nạn” của Petersen

Trong mô hình này đưa ra 3 loại sai sót của con người:

• Sự chịu tải

• Nghiên cứu về lao động

• Quyết định sai sót Máy

móc

Môi trường Con người

T h ô n g T i n

Quyết định Mạo hiểm

Nhi

Sự chịu tải trong lao động là sự chịu tác động tổng thể các điều kiện bên ngoài và các yêu cầu trong hệ thống lao động, các yếu t ố này có thể làm thay đổi tình trạng vật lý hay tâm lý người lao động. Sự chịu tải đó có thể là tốt hay xấu, nó tác động đến con người và cả quá trình lao động. Tác động của sự chịu tải dẫn đến sự căng thẳng trong lao động. Khi sự căng thẳng lao động nằm trong giới hạn cho phép sẽ cho kết quả tích cực: tạo ra năng suất lao động, con người thu được nhiều kinh nghiệm, có nhận thức đúng đắn về cuộc sống và lao động, có thu nhập cao hơn để cải thiện cuộc sống. Ngược lại nếu sự chịu tải trong lao động vượt quá giới hạn cho phép nào đó sẽ gây ra căng thẳng cho người lao động, dẫn đến kết quả tiêu cực: tổn hao sức lao động, gây tâm lý mệt mỏi, không tập trung, buồn chán, sốc, TNLĐ có thể xảy ra. Khi căng thẳng, không bình tĩnh, làm việc quá tải NLĐ có thể đưa ra các quyết định sai sót dẫn đến những rủi ro đáng tiếc, không lường trước được. Con người thường bị căng thẳng do quá tải, trạng thái tam sinh lý không ổn định, stress trong công việc, môi trường lao động khắc nghiệt…. Những tác nhân trên đã tác động lên người lao động, làm họ không thể tập trung, thao tác không chính xác nên rất dễ xảy ra tai nạn.

Nhiều cá nhân đặc biệt là những người khôngđược huấn luyện phòng tránh tai nạn đều có ý nghĩa rằng chỉ có một nguyên nhân độc nhất gây ra tai nạn. Lý thuyết này giả sử rằng khi người ta tìm ra một nguyên nhân cho một tai nạn thì không cần tìm thêm một điều gì nữa. Lý thuyết này đã giới hạn việc sử dụng trong phòng chống vì các yếu tố tham gia và các hành động tương ứng gây tai nạn sẽ bị bỏ qua. Lý thuyết này là một công cụ rất yếu trong lãnh vực phòng tránh tai nạn và quản lý an toàn và thực tế nó thường gây ra cản trở hơn là có ít cho việc nghiên cứu tao nạn.

Lý thuyết đơn yếu tố

Có nhiều lý thuyết cho rằng tai nạn là do nhiều yếu tố tác động với nhau.

Nguyên nhân trước mắt có thể là một thao tác không an toàn hoặc một điều kiện làm việc không an toàn tác động một mình. Trong lý thuyết đa nguyên nhân, các yếu tố kết hợp ngẫu nhiên hoặc theo dạng nào đó và gây tai nạn. Gross đề nghị mô hình đa yếu tố liên quan đến 4M: con người, máy móc, ngoại giới và quản lý (man – machine – media and management). Con người ở đây là công nhân, máy móc được xem như bất cứ loại thiết bị hoặc phương tiện di chuyển, ngoại giới bao gồm môi trường, đường xá vận chuyển và thời tiết, quản lý là đặc cảnh mà trong đó 3 yếu tố còn lại tồn tại và vận hành.

Lý thuyết đa yếu tố

Trong lý thuyết này, đặc tính của các yếu tố liên quan trong một tai nạn đặc thù nào đó đều được nhận biết. Ví dụ: đặc tính của con người là tuổi tác, chiều cao, giới

Một phần của tài liệu kl ho dac hien hien 811306b (Trang 42 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(79 trang)