CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VINA
3.4. Phân tích tình hình tài chính qua các chỉ số tài chính
3.4.2. Nhóm các chỉ số phản ánh khả năng hoạt động
BẢNG 3.14: BẢNG PHÂN TÍCH SỐ VÒNG QUAY HÀNG TỒN KHO Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
Giá vốn hàng bán 8.688 20.479
Hàng tồn kho 3.017 5.596
Số vòng quay hàng tồn kho 2,88 (vòng) 3,66 (vòng)
Tốc độ tăng giá vốn hàng bán 1,36
Tốc độ tăng hàng tồn kho 0,85
Số ngày quay hàng tồn kho 125 (ngày) 98 (ngày) (Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo tài chính năm 2010 – 2011)
Biểu đồ vòng quay hàng tồn kho thực tế (xem phụ lục - Hình 3.3)
43 Nhận xét:
Số vòng quay hàng tồn kho của Công ty năm 2011 tăng so với năm 2010, nguyên nhân là do tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nhanh hơn tốc độ tăng của hàng tồn kho. Năm 2011 hàng tồn kho của Công ty quay được 3,66 vòng một năm để tạo ra doanh thu, như vậy bình quân hàng tồn kho mất hết 98 ngày.
Nếu liên hệ tỷ số này với tỷ số thanh toán nhanh, có thể nhận thấy do Công ty tăng hàng tồn kho từ 3.017 triệu đồng năm 2010 lên 5.596 triệu đồng năm 2011 nên tỷ số thanh khoản nhanh giảm xuống. Tuy nhiên, trong năm 2011, việc tăng vòng quay hàng tồn kho là một thắng lợi lớn của Công ty.
Số vòng quay hàng tồn kho của Công ty là khá hợp lý. Vì lượng hàng tồn kho của Công ty là các nguyên vật liệu xây dựng và các phần công trình chưa được nghiệm thu.
3.4.2.2. Số vòng quay các khoản phải thu
Bảng CĐKT chƣa loại trừ phần vốn góp còn thiếu của cổ đông BẢNG 3.15: BẢNG PHÂN TÍCH SỐ VÒNG QUAY
KHOẢN PHẢI THU
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
Doanh thu thuần 11.210 24.212
Các khoản phải thu 195.940 197.955
Số vòng quay các khoản phải thu 0,06 (vòng) 0,12 (vòng)
Tốc độ tăng doanh thu thuần 1,16
Tốc độ khoản phải thu 0,01
Kỳ thu tiền 6000 3000
(Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo tài chính năm 2010 – 2011) Nhận xét:
Dựa trên Bảng CĐKT chưa loại trừ phần vốn góp còn thiếu của cổ đông dễ dẫn đến đánh giá nhầm lẫn là số vòng quay khoản phải thu của Công ty quá thấp.
Điều này là do tỷ trọng của các khoản phải thu chiếm tỷ trọng quá lớn so với doanh thu thuần, các khoản phải thu này chủ yếu là khoản thu góp vốn của các cổ đông lớn của Công ty. Công ty cần có chính sách để huy động khoản vốn góp này.
Vì vậy, để hiểu rõ hơn về tình hình việc thanh toán của Công ty, tác giả tiến hành xem xét số vòng quay khoản phải thu trên thực tế của Công ty.
44
Bảng cân đối kế toán điều chỉnh
BẢNG 3.16: BẢNG PHÂN TÍCH SỐ VÒNG QUAY KHOẢN PHẢI THU TRÊN THỰC TẾ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
Doanh thu thuần 11.210 24.212
Các khoản phải thu 1.941 6.454
Số vòng quay các khoản phải thu 5,77 (vòng) 3,75 (vòng)
Tốc độ tăng doanh thu thuần 1,16
Tốc độ khoản phải thu 2,33
Kỳ thu tiền khách hàng 63 (ngày) 96 (ngày) (Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2010 – 2011
và BCĐKT điều chỉnh)
Biểu đồ vòng quay khoản phải thu thực tế (xem phụ lục - Hình 3.4) Nhận xét:
Vòng quay khoản phải thu trên thực tế của Công ty có xu hướng giảm xuống trong năm 2011. Điều này cho thấy rất có thể là Công ty đang gặp khó khăn với việc thu nợ từ khách hàng. Nguyên nhân là do năm 2011 tốc độ tăng của doanh thu thuần thấp hơn tốc độ tăng của khoản phải thu.
Công ty cần phải điều chỉnh tỷ số này sao cho hợp lý nhất nhằm mục đích tăng vòng quay đồng vốn để thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
3.4.2.3. Số vòng quay các khoản phải trả
BẢNG 3.17: BẢNG PHÂN TÍCH SỐ VÒNG QUAY KHOẢN PHẢI TRẢ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
Giá vốn hàng bán 8.688 20.479
Phải trả người bán 1.179 4.190
Số vòng quay khoản phải trả 7,37 4,89
Tốc độ tăng giá vốn hàng bán 1,36
Tốc độ tăng phải trả người bán 2,55
Kỳ trả tiền 48 73
(Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo tài chính năm 2010 – 2011) Biểu đồ vòng quay khoản phải trả thực tế (xem phụ lục - Hình 3.5)
45 Nhận xét:
Vòng quay khoản phải trả có xu hướng giảm qua hai năm. Tỷ số này cho biết năm 2011 trung bình 73 ngày Công ty phải trả cho khách hàng, so với năm 2010 là 48 ngày. Điều này cho thấy Công ty đang kéo dài thời gian trả nợ thay vì trả tiền cho người bán thì có thể đầu tư vào các khoản đầu tư khác.
Nếu xét lợi ích của số vốn mà Công ty chiếm dụng từ nhà cung cấp cao hơn và đủ bù đắp chi phí lãi chậm thì Công ty nên tìm cách chiếm dụng vốn nhiều hơn nữa khi mua hàng, tận dụng thời gian mua chịu để sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả. Vì Công ty mua hàng hóa và dịch vụ nhiều nhà cung cấp nên có thể thỏa thuận và lựa chọn nhà cung cấp nào có thời gian bán chịu dài hơn, giá bán chịu hợp lý hơn.
3.4.2.4. Hiệu suất sử dụng tài sản
Bảng CĐKT chƣa loại trừ phần vốn góp còn thiếu của cổ đông
BẢNG 3.18: BẢNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
Doanh thu thuần 11.210 24.212
Tổng tài sản 204.562 211.842
Số vòng quay tài sản 0,05 0,11
Tốc độ tăng doanh thu thuần 1,16
Tốc độ tăng của tổng tài sản 0,04
(Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo tài chính năm 2010 – 2011)
Bảng cân đối kế toán điều chỉnh
BẢNG 3.19: BẢNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
Doanh thu thuần 11.210 24.212
Tổng tài sản 10.562 20.341
Số vòng quay tài sản 1,06 1,19
Tốc độ tăng doanh thu thuần 1,16
Tốc độ tăng của tổng tài sản 0,93
(Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2010 – 2011 và BCĐKT điều chỉnh)
46 Biểu đồ vòng quay tài sản thực tế (xem phụ lục - Hình 3.6)
Nhận xét:
Theo Bảng CĐKT chưa loại trừ phần vốn góp vốn còn thiếu của cổ đông (bảng 3.18), dễ dẫn đến đánh giá nhầm lẫn là vòng quay tổng tài sản của hai năm quá thấp. Năm 2011 cứ 1 đồng tài sản chỉ tạo ra 0,11 đồng doanh thu thuần.
Theo Bảng cân đối kế toán điều chỉnh (bảng 3.19), vòng quay tổng tài sản trên thực tế của Công ty được cải thiện qua hai năm. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của doanh thu thuần nhanh hơn tốc độ tăng của tổng tài sản. Năm 2011, cứ 1 đồng tài sản tạo ra 1,19 đồng doanh thu.
Chỉ số vòng quay tổng tài sản tăng chứng tỏ Công ty có kế hoạch sản xuất rất tốt. Điều này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty có chiều hướng tốt. Do đó, Công ty cần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn lưu động để tăng hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản.