CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Các biến nghiên cứu
3.1.1.1. Biến đại diện cho tính cách nhà quản lý
Nghiên cứu tác động của hành vi nhà quản lý đối với quyết định cấu trúc vốn tác giả sử dụng các biến đại diện cho hành vi của nhà quản lý gồm có 4 biến là khẩu vị rủi ro (Risk tolerance), sự lạc quan (Optimism), sự chinh phục (Sesation seeking) và tính bất định (Intolerance to Ambiguity).
Khẩu vị rủi ro (Risk tolerance) đo lường mức độ ưa thích rủi ro của nhà quản lý đối với việc quyết định nguồn tài trợ được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư. Khẩu vị rủi ro thể hiện sự sai lệch trong việc đánh giá rủi ro của nhà quản lý đối với hoạt động trong tương lai của công ty so với nhận định của thị trường
chứng khoán. Nhà quản lý càng ưa thích rủi ro thì mức sai lệch này càng lớn và ngược lại. Rủi ro trong hoạt động của công ty được thể hiện dưới ba khía cạnh gồm rủi ro từ các quyết định đầu tư vào các dự án khác nhau (Investment Risk), rủi ro từ các hoạt động đầu cơ, sự kỳ vọng vào một giá trị thu được lớn hơn giá trị chắc chắn hiện tại (Speculative Risk) và cuối cùng rủi ro xuất hiện do sự tin tưởng vào những trải nghiệm được đúc kết thành những kinh nghiệm của những người thân quen, của bản thân hay sự tự thỏa mãn cho chính mình (Risk Comfort &
Experience).
Khi lựa chọn biến này trong mô hình nghiên cứu, tác giả cũng kỳ vọng rằng những nhà quản lý ưa thích rủi ro thích sử dụng đòn bẩy tài chính hơn, thích phát hành nợ hơn vốn cổ phần để tài trợ cho những dự án mới.
Sự lạc quan (Optimism) là một trong những tính cách quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của một cá nhân đặc biệt là đối với lĩnh vực thể chất và tâm lý.
Một nghiên cứu của Scheier và các đồng nghiệp (1989) được thực hiện qua việc theo dõi một nhóm những người đàn ông phải trải qua cuộc phẫu thuật động mạch vành. Kết quả, những người đàn ông lạc quan có thể hồi phục lại cuộc sống của họ tốt hơn những người đàn ông bi quan khác trong vòng sáu tháng. Một kết quả tương tự khác trong lĩnh vực y học dành cho phái nữ của Litt, Tennen, Affleck, Klock (1992) là tỷ lệ những người phụ nữ lạc quan thực hiện hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm thất bại ít hơn những người phụ nữ bi quan. Như vậy những người lạc quan luôn có xu hướng suy nghĩ tích cực về những sự kiện tương lai sẽ xảy ra đối với họ và do đó làm cho cuộc sống của họ có khả năng trở lên tốt hơn.
Trái lại, những người bi quan lại nhìn về tương lai với một tâm trạng lo lắng, buồn rầu và tự làm cho cuộc sống trở lên mệt mỏi, căng thẳng hơn. Trong một bài viết về những tính cách thành công của một doanh nhân được viết bởi Cheryl Mathynssens (2011) đã chỉ phân tích rằng lạc quan là một trong những tính cách đầu tiền cần có của một nhà quản lý thành công. Chính tính cách này sẽ dẫn dắt anh ta tìm ra những phương thức biến mọi thứ xung quanh trở lên tốt hơn vì vậy thành công sẽ đến một cách nhanh chóng hơn. Thông tin đăng tải gần đây trên
trang báo điện tử vnexpress.net cho thấy rằng Việt Nam là một nước đứng đầu về niềm tin lạc quan vào triển vọng nền kinh tế trong năm 2011. Cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện trên 63.000 người đến từ 53 quốc gia, do tổ chức nghiên cứu thị trường BVA và Hiệp hội quốc tế Gallup phối hợp thực hiện, trong khoảng từ tháng 10 đến tháng 12/2010.
Cũng giống các nghiên cứu trước, trong nghiên cứu này, nhà quản lý lạc quan là những người tin tưởng vào sự tăng trưởng của công ty trong tương lai cao hơn mức trung bình nên họ tin rằng thị trường chứng khoán định giá thấp giá trị công ty của họ, do đó việc phát hành nợ thì sẽ bớt tốn kém chi phí hơn phát hành cổ phiếu. Sự thiên lệch về nhận thức này nhỏ hay lớn phụ thuộc vào mức độ lạc quan của nhà quản lý.
Khi lựa chọn biến này trong mô hình nghiên cứu, tác giả cũng kỳ vọng rằng những nhà quản lý quá lạc quan thích sử dụng đòn bẩy tài chính hơn, thích phát hành nợ hơn vốn cổ phần để tài trợ cho những dự án mới.
Tính bất định (Intolerance to Ambiguity) là khi những nhà quản lý e sợ những sự kiện, tình huống sẽ xảy ra trong tương lai nhưng không thể dự đoán trước được. Khác với rủi ro, tính bất định hay không chắc chắn không thể tính được xác suất cho những rủi ro có thể xảy ra. Tính bất định có thể được biểu hiện qua ba tình huống cơ bản là tính mới (novelty), sự phức tạp (complexity) và sự khó khăn (insolubility) của một sự kiện hay tình huống mới. Nói cách khác, những người e ngại sự bất định là những người đánh giá cao rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động của công ty so với nhận định của thị trường chứng khoán. Khi nhà quản lý càng e ngại sự bất định thì họ càng có xu hướng lựa chọn nguồn tài trợ ngược với nhà quản lý ưa thích rủi ro, hay nói cách khác họ sẽ lựa chọn việc phát hành vốn cổ phần để tránh phải đối diện với tình trạng kiệt quệ về tài chính cũng như ảnh hưởng tới danh tiếng, công việc của họ trong tương lai hơn.
Khi lựa chọn biến này trong mô hình nghiên cứu, tác giả cũng kỳ vọng rằng những nhà quản lý e ngại sự bất định thì sử dụng đòn bẩy tài chính với tỷ lệ thấp hơn và họ thích phát hành vốn cổ phần hơn nợ để tài trợ cho những dự án mới.
Sự chinh phục (Sesation seeking) là việc tìm kiếm những trải nghiệm, trạng thái mới mẻ, khác với truyền thống. Nó được xem xét dưới những biểu hiện khác nhau là (1) - tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ, độc đáo (experience seeking); (2) - tìm kiếm những cảm giác phiêu lưu, mạo hiểm (thrill and adventure seeking); (3) - sự nổi loạn (disinhibiting) và (4) - sự nhàm chán (boredom susceptibility). Nói một cách khác sự chinh phục thể hiện mức độ tự tin của nhà quản lý vào chính bản thân mình. Khi nhà quản lý tự tin thì họ cũng sẽ đánh giá thấp khả năng rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động của công ty trong tương lai hơn sự đánh giá của thị trường chứng khoán. Mức độ đánh giá sai lệch này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào mức độ ưa thích sự chinh phục của nhà quản lý.
Khi lựa chọn biến này trong mô hình nghiên cứu, tác giả cũng kỳ vọng rằng những nhà quản lý ưa thích sự chinh phục thì thích sử dụng đòn bẩy tài chính hơn, thích phát hành nợ hơn vốn cổ phần để tài trợ cho những dự án mới.
3.1.1.2. Biến đại diện làm rõ thêm cho tính cách nhà quản lý
Ngoài những biến đại diện cho những tính cách để phân tích hành vi của nhà quản lý ở trên, thực tế còn có một số những yếu tố khác ảnh hưởng không nhỏ tới việc ra quyết định của nhà quản lý. Những yếu tố này thường bao gồm: độ tuổi, giới tính, chức vụ và nền tảng học vấn của nhà quản lý.
Tuổi tác đóng vai trò khá quan trọng trong việc ra quyết định của một cá nhân. Phân tích của Zuckerman (1994) đã chỉ ra mối liên hệ giữa tuổi tác và mức độ chấp nhận rủi ro. Theo đó mức độ chấp nhận rủi ro hay trạng thái tìm kiếm những trải nghiệm khác lạ ở một cá nhân gia tăng từ khi ấu thơ cho tới độ tuổi hai mươi và sau đó giảm dần. Tuy nhiên, kết quả này lại có một sự khác biệt đáng kể trong nghiên cứu của Shefrin (2002) và Graham và đồng nghiệp (2009). Đó là trạng thái e ngại rủi ro sẽ gia tăng tới độ tuổi 70 và sau đó giảm dần. Một nghiên cứu khác được thực hiện sau đó của Bertrand và Schoar (2003) cũng đã phát hiện ra rằng những nhà lý ở độ tuổi lớn hơn thì bảo thủ hơn trong các quyết định liên quan tới cấu trúc vốn, họ cần sự an toàn, ổn định hơn.
Giới tính: Liệu rằng các nữ giám đốc và nam giám đốc có khác nhau trong việc
ra quyết định đối với một công ty hay các quyết định đầu tư của chính họ? Một số các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng phụ nữ thường đầu tư vào các tài sản ít rủi ro hơn nam giới Sunden và Surette (1998); Bernasek và Shwiff (2001)). Một nghiên cứu khác của Barber và Odean (2001) cũng chứng tỏ có tồn tại mối quan hệ giữa sự quá tự tin và giới tính. Tác giả nhận thấy rằng nữ giới mở tài khoản giao dịch chứng khoán ít hơn nam giới và cũng có khối lượng giao dịch ít hơn. Một nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Huang và Kisgen (2009) về ảnh hưởng của giới tính đối với việc ra quyết định tài chính của công ty, cụ thể là quyết định cấu trúc vốn. Kết quả cho thấy rằng các nữ quản lý không thích phát hành nợ bằng các nam quản lý trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ. Sở dĩ là nữ giới thích phát hành cổ phần thường hơn vì họ là những người thiếu tự tin và e ngại rủi ro hơn nam giới.
Chức vụ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong việc tác động đến việc ra quyết định của một công ty ở những khía cạnh khác nhau. Kết quả từ nghiên cứu của Bertrand và Schoar (2003) cũng cho thấy rằng các giám đốc tài chính có tác động lớn nhất đối với các quyết liên quan tới lĩnh vực tài chính trong khi đó các giám đốc điều hành lại có ảnh hưởng tới các chiến lược của một công ty.
Trình độ học vấn của một cá nhân sẽ có những tác động đáng kể đối với việc đưa ra những quyết định khác nhau. Những nhà quản lý sở hữu bằng thạc sỹ (MBA) theo đuổi những chính sách tài chính tích cực hơn như họ sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn, hay chi phí vốn cao hơn và thực hiện chính sách cổ tức chi trả thấp hơn như nghiên cứu Bertrand và Schoar ( 2003). Một nghiên cứu khác của Graham và các đồng sự (2009) cũng cho kết quả tương tự. Nhà quản lý có bằng MBA thích làm việc ở công ty có tốc độ tăng trưởng cao vì họ có thể sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn để gia tăng hơn nữa tốc độ tăng trưởng của công ty.
3.1.1.3. Biến đại diện thông tin công ty
Một công ty với những ngành nghề kinh doanh khác nhau, quy mô khác nhau, thị trường tiêu thụ khác nhau (trong nước hay nước ngoài) có ảnh hưởng tới việc lựa chọn cấu trúc vốn khác nhau hay không? Để làm sáng tỏ vấn đề này tác giả lựa chọn thêm các biến liên quan tới công ty như ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh, quy mô công ty và yếu tố xuất khẩu.
Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh: Biến này phản ánh cấu trúc vốn tại các công ty với các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau để cho biết với các nhóm ngành giống nhau thì liệu cấu trúc vốn có giống nhau hay không.
Quy mô công ty: một số nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô công ty và việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Nếu công ty có quy mô lớn hơn thì khả năng phá sản thấp hơn vì vậy sẽ dẫn tới một sự đánh đổi giữa những lợi ích về tấm chắn thuế và chi phí phá sản. Bên cạnh đó, những công ty có danh tiếng tốt hơn có thể làm giảm chi phí đại diện hơn.
Xuất khẩu: là một trong những yếu tố biểu hiện khả năng tạo sức ảnh hưởng của công ty ra thế giới. Liệu rằng các nhà quản lý làm việc cho các công ty có hoạt động xuất khẩu thì có khả năng vay nợ nhiều hơn hay không?