CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2. CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xử lý nợ xấu
- Môi trường pháp lý: Hầu hết Chính phủ các nước đều nhận ra tác động tiêu
cực mà các khoản nợ xấu có thể gây ra đối với hệ thống NHTM và cả nền kinh tế.
Vì vậy, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp như ban hành các văn bản, luật, hay các quy định về việc phòng ngừa và xử lý nợ xấu. Tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch thuận lợi và đủ mạnh để giải quyết nợ xấu. Chẳnh hạn phải có các luật về thế chấp, tịch thu tài sản, luật phá sản ngân hàng, xây dựng các chính sách thích hợp,...
Ở các nước phát triển trên thế giới, nhà nước đã ban hành luật để xử lý thu hồi nợ xấu vì đây là vấn đề quan trọng của đất nước. Cơ chế pháp lý có hiệu quả là cần phải có các biện pháp thích hợp để xử lý nợ, tránh tình trạng thủ tục rườm rà kéo dài qua nhiều tầng nấc.
- Môi trường kinh tế xã hội: môi trường kinh tế lành mạnh, minh bạch, với sự phát triển đầy đủ của các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động quản lý nợ xấu ngân hàng.
- Thị trường mua bán nợ: Thị trường mua bán nợ phát triển là một trong những kênh quan trọng giúp các NHTM chủ động hơn trong xử lý, thu hồi nợ xấu.
Việc mua, bán các khoản nợ xấu thường được thực hiện trên cơ sở đánh giá khả năng thu hồi và mức độ thu hồi các khoản nợ so với chi phí bỏ ra. Đối với bên bán các khoản nợ sẽ thu hồi và giảm thiểu ngay khoản nợ xấu, đối với bên mua khoản nợ xấu cũng sẽ thu được phần thu nhập nhất định khi thu hồi được các khoản nợ đã mua.
Các khoản nợ xấu khi được chuyển giao cho một bên khác (ngoài ngân hàng cho vay) sẽ nâng cao hơn hiệu quả thu hồi khoản nợ (do mỗi tổ chức có chính sách và biện pháp thu hồi nợ khác nhau, thêm vào đó là tâm lý và ý thức của người vay cũng sẽ thay đổi khi chủ nợ thay đổi).
- Quy định về chế độ công bố thông tin: Thông tin giữ vai trò quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế nói chung và quản lý nợ xấu nói riêng. Khi công bố thông tin được quy định và điều chỉnh bằng luật sẽ giúp các NHTM nắm bắt được tình hình khách hàng, khoản vay để từ đó hoạch định chính sách nợ xấu xác thực
hơn, chủ động áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu phù hợp và hiệu quả.
Hiện tại, việc công bố thông tin chỉ mang tính bắt buộc đối với các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán mà chưa có quy định bắt buộc đối với tất cả các cá nhân, doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh. Mặt khác, ngay cả đối với các đối tượng bắt buộc phải công bố thông tin thì việc tuân thủ quy định cũng như chất lượng thông tin công bố chưa cao. Vì thế, khi thông tin không được công bố hoặc công bố không đầy đủ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thu hồi nợ của ngân hàng, đặc biệt là thu hồi các khoản nợ xấu.
- Từ phía khách hàng vay: Phân loại khách hàng tốt sẽ giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc đưa ra các chính sách tín dụng nói chung và biện pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả. Tùy theo kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ, đánh giá tính chất các khoản nợ xấu, ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp xử lý đối với từng khoản nợ xấu cụ thể.
Đối với nhóm khách hàng là doanh nghiệp: Xử lý nợ xấu cần được thực hiện trên cơ sở phân tích các nhân tố chủ yếu: tình hình tài chính, đặc điểm hoạt động, quan hệ đối tác, tính pháp lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với nhóm khách hàng là hộ sản xuất kinh doanh: Xử lý nợ xấu cần phải xem xét đến các yếu tố chủ yếu như: tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng, các yếu tố môi trường: thiên tai dịch bệnh,... ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xử lý nợ xấu của ngân hàng.
Đối với nhóm khách hàng là cá nhân: Xử lý nợ xấu cần chú trọng đến nhân thân của người vay, các mối quan hệ họ hàng, đồng nghiệp, nguồn thu nhập và tài sản của người vay, người bảo lãnh .
Nhìn chung, các nhân tố từ phía khách hàng có ảnh hưởng trục tiếp, chi phối đến hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng. Việc xử lý, thu hồi nợ xấu chỉ có thể đạt kết quả khi khách hàng có ý thức trả nợ đồng thời phải có khả năng hoàn trả.
- Sự phối hợp của chính quyề địa phương: Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng, hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác, thì vai
trò của Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là rất quan trọng, theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm.
1.2.4.2. Nhân tố bên trong
- Chính sách quản lý rủi ro: Chính sách quản lý rủi ro là một hệ thống các quy định nhằm điều chỉnh hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ. Bản thân hoạt động cho vay của ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro.
Việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro là kim chỉ nam cho hoạt động cho vay. Chính sách quản lý rủi ro giúp định hướng phát triển hoạt động cho vay trên cơ sở chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định, đồng thời cũng sẽ tác động trực tiếp đến việc xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay. Việc tăng cường hay nới lỏng quản lý nợ xấu luôn phải tuân theo định hướng và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Khi tỷ lệ nợ xấu cũng như mức độ rủi ro tiềm ẩn vượt ra ngoài giới hạn rủi ro cho phép thì ngân hàng cần áp dụng ngay những biện pháp hữu hiệu để quản lý và kiêm soát nợ xấu.
- Quy trình cho vay: Mỗi ngân hàng khi triển khai bất kỳ sản phẩm, dịch vụ nào cũng cần phải ban hành quy trình hướng dẫn cụ thê về sản phẩm, dịch vụ, cách thức thực hiện. Việc ban hành quy trình cho vay chi tiết, rõ ràng sẽ giúp cho nhân viên ngân hàng hiêu và triển khai nghiệp vụ có hiệu quả, hạn chế được những lỗi vi phạm quy trình cho vay không chủ đích, tránh ảnh hưởng tới chất lượng các khoản cho vay. Bên cạnh đó, với quy trình cho vay chuẩn xác, việc rà soát, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, thiếu sót sẽ được thực hiện dễ dàng hơn.
Hệ thống quy trình về các sản phẩm cho vay của ngân hàng có tác động đến xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu. Trong trường hợp ngân hàng ban hành đầy đủ và chuẩn xác các quy trình cho vay thì chỉ tiêu về nợ xấu có thể được xây dựng theo hướng nới lỏng hơn (nhưng vẫn phải đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh) do đã hạn chế được nợ xấu phát sinh do nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng. Ngược
lại khi quy trình cho vay chưa đầy đủ hoặc chưa rõ ràng thì chỉ tiêu về nợ xấu cần được thắt chặt để nâng cao hơn nữa ý thức kiểm soát và hiệu quả thu hồi đối với các khoản cho vay.
- Chất lượng cán bộ tín dụng: Sự phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên, họ là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quản lý cũng như đóng vai trò là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các NHTM hoạt động có hiệu quả cao bao giờ cũng rất quan tâm đến việc tuyển chọn cán bộ tín dụng có trình độ, năng lực và tâm huyết. Các ngân hàng thường phải có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo và đào tạo lại để cán bộ ngân hàng thích ứng với yêu cầu thực tế. Do vậy việc tuyển chọn và xây dựng nguồn nhân lực nhanh nhạy, có phẩm chất tốt, đáp ứng đòi hỏi của thị trường, phát hiện xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình cho vay là vô cùng quan trọng.
Trên cơ sở năng lực, trình độ của đội ngũ nhân viên, ngân hàng sẽ xây dựng chỉ tiêu về nợ xấu cho phù hợp. Với một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn tốt trong thẩm định cho vay, chỉ tiêu về nợ xấu có thể được xây dựng theo hướng nới lỏng và ngược lại khi đội ngũ nhân viên có chất lượng chuyên môn chưa cao, thiếu kinh nghiệm thì chỉ tiêu về nợ xấu cần được thắt chặt.
- Mô hình tổ chức và quản trị điều hành: Mô hình tổ chức có tác động trực tiếp đến lập kế hoạch và triển khai xử lý nợ xấu. Với mô hình tổ chức được phân rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, đặc biệt là bộ phận xử lý nợ sẽ giúp công tác triển khai xử lý nợ hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn.
Quản trị điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng cũng là một nhân tố quyết định trong quản lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng. Khi ban lãnh đạo có quan điểm rõ ràng và kiên quyết trong kiểm soát và XLNX thì công tác thực thi chỉ tiêu về nợ xấu sẽ đạt hiệu quả tốt hơn và thuận lợi hơn
- Hệ thống công nghệ ngân hàng: Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ tin học có ảnh hưởng rất lớn, chi phối mọi hoạt động của ngân hàng. Nền tảng công nghệ tốt tạo điều kiện cho ngân hàng tiết kiệm được thời gian, nhân lực trong quản lý nói chung và theo dõi các khoản vay nói riêng. Ứng dụng công nghệ tin học trong thực
hiện các chỉ tiêu về nợ xấu giúp tăng cường công tác quản lý, cảnh báo và phát hiện kịp thời những khoản vay suy giảm chất lượng do vi phạm cam kết.
- Tiềm lực tài chính của Ngân hàng: Xử lý nợ xấu một cách triệt để đòi hỏi NHTM phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh, mà cụ thể ở đây là quy mô vốn chủ sở hữu. Thực tế trong số các biện pháp xử lý nợ xấu thì việc trích lập và sử dụng quỹ DPRR vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Tuy nhiên, không phải NHTM nào cũng có thể trích đủ DPRR theo quy định của pháp luật vì số thực trích DPRR tín dụng được tính vào chi phí và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Thực tế đã có những NHTM lâm vào tình trạng năng lực tài chính quá thấp có khi phải mất đến mấy chục năm mới có thể xử lý hết nợ tồn đọng. Vì vậy, nâng cao năng lực tài chính, tăng quy mô vốn chủ sở hữu là điều kiện quan trọng giúp cho NHTM chủ động hơn trong công tác quản lý nợ xấu của mình.
Các ngân hàng với tiềm lực tài chính mạnh cũng sẽ vững vàng hơn khi gặp phải khoản tổn thất lớn do nợ xấu gây ra. Tuy nhiên ở các quốc gia đang phát triển còn cần có sư hỗ trợ từ phía chính phủ nhằm nâng cao năng lực tài chính cho NHTM.