Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân

Một phần của tài liệu Ng©n hµng n«ng nghiöp vµ (Trang 72 - 81)

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI AGRIBANK

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI AGRIBANK

2.3.2. Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù thời gian vừa qua Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu đã chú trọng công tác xử lý nợ xấu và thu được một số kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên công tác xử lý nợ xấu tại chi nhánh vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện và còn một số hạn chế, cụ thể:

- Nợ xấu tại Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu tuy ở mức thấp, song đang có xu hướng lại tăng nhanh trong những năm gần đây. Năm 2015 là 0,09%, nhưng đến năm 2017 tăng lên 1,39%. Công tác xử lý nợ tồn đọng trong những năm trở lại đây được coi là trọng tâm nhưng tiến độ vẫn còn chậm do nhiều nguyên nhân khách quan như hệ thống pháp lý còn nhiều vướng mắc, tài sản bảo đảm xuống cấp và mất giá, đặc biệt là tài sản nhận thế chấp là động sản, sự phối kết hợp với các ngành liên quan trong công tác tài sản gặp nhiều khó khăn. Điển hình là dư nợ xấu của doanh nghiệp hơn 7 tỷ đồng, tài sản bảo đảm chủ yếu là phương tiện cơ giới, xà lan,... khi tiến hành thu giữ để phát mại gặp khó khăn do khách hàng không thiện trí hợp tác, các cơ quan pháp luật không nhiệt tình hỗ trợ.

- Khả năng nhận biết các khoản nợ xấu thấp, dẫn đến các khoản nợ khi bắt đầu áp dụng các biện pháp để xử lý đã ở trong tình trạng quá xấu. Thực tế tại Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu có rất nhiều các khoản nợ xấu bắt đầu được lưu ý và áp dụng các biện pháp xử lý thì các khoản nợ đã ở trong tình trạng “quá xấu”, điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng và hiệu quả thu hồi nợ xấu. Vì nếu phát hiện được sớm khoản vay có dấu hiệu chuyển sang nợ xấu thì ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý ngay, đồng thời cùng với khách hàng thỏa thuận, đàm phán và giải quyết để tìm nguồn trả nợ như thu hồi công nợ hoặc phát mại tài sản.

Tuy nhiên việc phát hiện, nhận dạng nợ xấu muộn dẫn đến tình trạng khách hàng thiếu thiện chí hợp tác, tài sản bị mất giá thậm chí có trường hợp khách hàng đã tẩu tán tài sản hoặc chuyển đi nơi khác mà không thông qua ngân hàng. Đây là hành vi có chủ ý của khách hàng nhưng phần lớn do cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra giám sát tài sản bảo đảm.

- Đội ngũ cán bộ xử lý nợ xấu phải kiêm nhiệm, thiếu chuyên nghiệp: Thành viên tổ xử lý nợ của Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu là Trưởng, phó phòng

kế hoạch kinh doanh, Giám đốc phòng giao dịch trực thuộc và CBTD, họ vừa phải làm công tác chuyên môn, vừa được phân công theo dõi, xử lý các khoản nợ xấu, lại không được đào tạo bài bản, chuyên sâu công tác XLNX nên chưa có kinh nghiệm cũng như chưa chuyên tâm vào việc phân tích và XLNX. Đây cũng là một trong những hạn chế làm cho công tác XLNX tại đơn vị chưa đạt được kết quả tối ưu.

- Việc duy trì Tổ hỗ trợ các địa bàn được thực hiện khá tốt nhưng việc phân công nhiệm vụ các thành viên tham gia hỗ trợ chưa rõ ràng, chưa phát huy hết lợi thế về số đông.

- Tổ chức xử lý còn tràn lan, thiếu trọng tâm, trọng điểm, thậm chí đến ngày cho cam kết mà khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng vẫn không tiếp tục có biện pháp xử lý kịp thời. Việc nắm bắt thông tin về khách hàng của Tổ hỗ trợ đôi khi không đầy đủ, làm hạn chế rất lớn đến chất lượng của buổi xử lý. Do đó, việc phân tích, đánh giá thực trạng khách hàng, cập nhật thông tin là việc làm cần phải thực hiện thường xuyên, chính xác. Qua đó biết được những khách hàng nào có điều kiện trả nợ thì phải tập trung xử lý kiên quyết thu hồi cho bằng được nhằm tạo ảnh hưởng tích cực trong việc trả nợ đối với khu vực này.

- Chưa áp dụng đa dạng phương thức xử lý nợ xấu: Hiện tại Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu chỉ áp dụng các biện pháp chủ yếu để xử lý nợ xấu là dừng cấp tín dụng, giảm dần dư nợ, vận động khách hàng trả nợ,...còn việc phát mại tài sản và khởi kiện nhiều nhưng thu đạt kết quả rất thấp. Ngoài ra, Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu chưa thực sự chú trọng đến việc bán nợ cho VAMC.

- Chưa có cơ chế tài chính riêng phục vụ cho hoạt động XLNX: Trong nhiều trường hợp, ngân hàng phải bỏ chi phí trước để công tác XLNX được thuận lợi, trong khi việc phê duyệt các chi phí này rất khó khăn do thiếu cơ sở. Vì vậy sẽ ảnh hưởng khá nhiều đến khả năng áp dụng các biện pháp xử lý.

- Ngoài ra Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu chưa làm tốt đòn bẩy khen thưởng, động viên và hoa hồng kịp thời để tạo động lực cho cán bộ XLNX.

2.3.2.2. Nguyên nhân hạn chế

- Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cũng như công tác chẩm điểm xếp

hạng tín dụng còn hạn chế: Đối với doanh nghiệp, việc chấm điểm xếp hạng tín dụng chỉ được thực hiện khi doanh nghiệp cung cấp báo cáo tài chính hai năm gần nhất. Như vậy với những doanh nghiệp mới thành lập, có thời gian hoạt động dưới hai năm sẽ không đủ điều kiện đế thực hiện xếp hạng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ với loại hình là khách hàng doanh nghiệp. Vì vậy ngân hàng không thực hiện chấm điếm xếp hạng tín dụng mà thực hiện phân loại nợ chủ yếu theo thời gian quá hạn hoặc phải thực hiện xếp hạng theo bộ chỉ tiêu dành cho khách hàng có quy mô nhỏ (với đối tượng khách hàng này, việc đánh giá sẽ được loại bỏ một số chỉ tiêu so với khách hàng doanh nghiệp), từ đó sẽ ảnh hưởng tới việc xác định và phân loại nợ của những khách hàng này.

Bên cạnh đó, với các chỉ tiêu phi tài chính, việc đánh giá chủ yếu dựa trên ý kiến chủ quan của người chấm điểm mà chưa có chế tài kiểm soát thường xuyên mức độ xác thực của thông tin được nhập vào hệ thống xếp hạng tín dụng, nên trong một số trường hợp kết quả xếp hạng tín dụng có thể bị làm sai lệch do vô tình hoặc cố ý.

- Tài sản bảo đảm tiền vay là động sản nhưng việc kiểm tra, giám sát của chi nhánh chưa được thực hiện tốt. Mối quan hệ với các cơ quan pháp luật phần nào còn hạn chế nên sự hỗ trợ, giúp đỡ trong xử lý tài sản cũng bị giới hạn.

- Trình độ và năng lực cán bộ XLNX chưa cao: Hiện tại, mặc dù chi nhánh đã thành lập tổ xử lý nợ và phân giao CBTD phụ trách xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, trình độ của cán bộ XLNX cũng như vai trò của Phòng kế hoạch kinh doanh tại chi nhánh trong công tác tín dụng và XLNX chưa cao, điều này dẫn đến những hạn chế nhất định trong phân tích, thẩm định và giám sát cho vay. Việc nhận biết các khoản nợ xấu cũng bị hạn chế, thiếu thông tin để cảnh báo.

Công tác xử lý nợ xấu có được đề cập đến trong chức năng và nhiệm vụ của Phòng kế hoạch kinh doanh tại chi nhánh, nhưng thực tế vai trò của cơ quan này còn mờ nhạt. Việc xử lý nợ xấu chỉ dừng lại ở theo dõi, báo cáo mà chưa tham gia tích cực vào quá trình xử lý nợ. Một phần do lực lượng cán bộ mỏng, chưa có cán bộ chuyên trách, mặt khác do chưa xây dựng được cơ chế trao đổi thông tin hiệu

quả, làm mất đi khả năng nắm bắt và kiểm soát thông tin của bộ phận quản lý tín dụng.

- Ngân hàng chưa có một cơ chế giám sát trong việc định giá tài sản bảo đảm và một quy trình xử lý nợ xấu thống nhất: Trong quá trình xét duyệt cho vay, việc xác định giá trị tài sản cầm cố, thế chấp chưa sát thực, phụ thuộc hoàn toàn vào đánh giá chủ quan của nhân viên cho vay trong khi trình độ còn hạn chế, không có đủ kiến thức chuyên môn trên những lĩnh vực khác nhau nên không thể đánh giá được hiện trạng của tài sản. Đặc biệt, chưa có một chuẩn mực về định giá giá trị tài sản bảo đảm cụ thể đối với từng loại tài sản như: bất động sản, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng hóa... dẫn đến tình trạng định giá không sát với giá trị thực do vô tình hoặc cố ý, ảnh hưởng tới kết quả xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu, một số khoản vay mặc dù đã xử lý hết tài sản bảo đảm nhưng cũng không đủ để thu hồi nợ.

Chưa có quy trình xử lý nợ xấu thống nhất nên có sự lúng túng trong công tác quản lý nợ xấu nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng. Chưa có được sự phối họp đồng bộ giữa các bộ phận chức năng trong xử lý thu hồi nợ xấu tại chi nhánh cũng như với các cơ quan chuyên trách tại Hội sở (Tổ xử lý nợ - Phòng kế hoạch kinh doanh ), chưa phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm cũng như tiến trình xử lý cụ thể đối với các khoản nợ xấu phát sinh, vì thế ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả xử lý nợ xấu tại chi nhánh.

- Do áp lực kinh doanh dẫn đến công tác quản lý, chỉ đạo xử lý nợ xấu chưa được chú trọng đúng mức: Bộ phận xử lý nợ xấu kiêm nhiệm cả nhiệm vụ kinh doanh, không được đào tạo bài bản do đó công tác xử lý nợ xấu thường bị lơ là, làm hình thức và hiệu quả đạt được thấp. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo vẫn tập trung chủ yếu cho hoạt động kinh doanh, công tác xử lý nợ xấu chưa được chú trọng và chỉ đạo kịp thời, sát sao, chưa có đánh giá khách quan về kết quả xử lý nợ cho bộ phận xử lý nợ xấu dẫn đến cán bộ xử lý nợ thường có tâm lý chán nản, không quyết tâm cho công việc của mình.

- Sự ảnh hưởng lạm phát của nền kinh tế: Chính sách điều hành kinh tế vĩ mô

của Chính phủ cũng có tác động rất lớn đến công tác XLNX, đặc biệt là việc cắt giảm đầu tư công ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của những khách hàng trong lĩnh vực xây dựng.

Bên cạnh đó một số khách hàng, mặc dù có ý thức và trách nhiệm trong việc hoàn trả nợ ngân hàng, tuy nhiên do hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng, không thể thu hồi tiền từ phía đối tác nên đã dẫn đến không thanh toán được nợ cho ngân hàng đúng hạn.

Ngoài ra, lạm phát kinh tế cũng làm gia tăng nguy cơ lừa đảo, khách hàng tìm mọi cách để chiếm đoạt tài sản. Một số khách hàng đã cố tình che dấu tình trạng kinh doanh yếu kém, thua lỗ để được vay tiền ngân hàng bằng mọi giá. Kết hợp với sự thiếu kinh nghiệm trong thẩm định, đánh giá nền kinh tế vĩ mô của chuyên viên thẩm định, hậu quả là rất khó có thể xử lý trong thời gian ngắn.

- Hoạt động xử lý tài sản bảo đảm chưa có được sự hỗ trợ cần thiết và đầy đủ từ các các quy định của pháp luật khác có liên quan (pháp luật về tố tụng, hành chính, định giá tài sản bảo đảm, bán đấu giá tài sản ...)

+ Một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảm là bán đấu giá tài sản.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động xử lý tài sản bảo đảm rất cần sự hỗ trợ từ chính các quy định và sự hoạt động chuyên nghiệp của tổ chức đấu giá và tổ chức định giá bán tài sản. Tuy nhiên, trong bối cảnh nước ta hiện nay, hoạt động định giá chưa mang tính phổ biến và chuyên nghiệp nên việc xác định giá bán tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn, thậm chí phát sinh nhiều tranh chấp, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý tài sản bảo đảm.

+ Quy trình tố tụng hiện hành cũng dẫn đến khó khăn cho chủ nợ có bảo đảm trong quá trình tiếp cận tài sản bảo đảm và giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm. Trong nhiều trường hợp, hợp đồng bảo đảm đã được các bên ký kết theo đúng quy định của pháp luật (hợp đồng được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm), nhưng khi phát sinh tranh chấp thì Tòa án vẫn phải giải quyết theo một quy trình tố tụng chung nên dẫn đến hệ quả là tài sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án do giá trị bị giảm, bị hư hỏng, bị tẩu tán.

+ Các quy định hiện hành về xác định quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm mới chỉ giới hạn trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, mà chưa đưa ra các nguyên tắc chung về xác định vị thế quyền của các chủ thể khác có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản tài sản bảo đảm.

- Hệ thống thông tin chưa hoàn thiện và mức độ tin cậy chưa cao: Thông tin luôn là yếu tố chi phối đến các quyết định cho vay của ngân hàng. Khi các quyết định cho vay được đưa ra trong trạng thái thông tin không đầy đủ hoặc thiếu chính xác sẽ tiềm ấn nguy cơ nợ xấu. Mặt khác, khi nợ xấu phát sinh nếu không có đầy đủ thông tin về khách hàng và các mối quan hệ liên quan thì sẽ cản trở rất lớn đến xử lý thu hồi nợ. Hiện nay, Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng, gây trở ngại cho việc đánh giá và ra quyết định.

Mặc dù, Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước đang hoạt động nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho NHTM. Thông tin đưa ra về lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng tại tổ chức tín dụng đôi khi còn thiếu chính xác, không được cập nhật kịp thời và còn chung chung, chưa chỉ rõ tình hình quan hệ cụ thể của khách hàng với từng tổ chức tín dụng. Việc phối hợp, xử lý kiểm tra thông tin chưa được chú trọng, gây mất thời gian và làm giảm sự tin tưởng của các NHTM khi khai thác thông tin. Sự thiếu chính xác của các thông tin do CIC cung cấp đã ảnh hưởng tới quyết định cho vay, kéo theo đó là nợ xấu phát sinh và quá trình xử lý nợ xấu cũng gặp khó khăn khi mà khách hàng có quan hệ một lúc với nhiều tổ chức tín dụng, thì thời gian thu thập và trả lời thông tin từ phía CIC khá lâu, đôi khi làm ảnh hưởng tới quyết định cho vay của ngân hàng, ở một số trường hợp ngân hàng đã phải ra quyết định trong tình trạng thiếu thông tin do áp lực về cơ hội kinh doanh.

- Sự phối hợp giữa NHNN, các bộ ngành, các cơ quan hữu quan trong công tác xử lý nợ xấu chưa chặt chẽ: Thực trạng công tác XLNX tại Agribank chi nhánh thành phố Bạc Liêu trong thời gian qua cho thấy: Nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành, các khách hàng có nợ vay thì chi nhánh không thể xử lý triệt để các khoản nợ xấu. Đặc biệt đối với các khoản nợ liên quan đến vụ án

thì việc thu hồi nợ nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào sự giúp đỡ của các cơ quan pháp luật.

Thông tư liên tịch số 3 ngày 29/04/2001 của liên bộ NHNN, bộ tư pháp, Bộ công an, Bộ tài chính, Tổng cục địa chính về xử lý nợ vay có nói đến trách nhiệm phối hợp của các cơ quan hữu quan trong công tác xử lý TSBĐ nợ vay của ngân hàng. Tuy nhiên do các cơ quan ban ngành chưa thấy được vai trò quan trọng trong công tác XLNX đối với nền kinh tế nên đôi khi chưa có sự phối hợp đồng bộ. Đặc biệt là các khoản nợ không có TSBĐ và khách hàng không còn thì ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn nếu không có sự giúp đỡ của Chính quyền địa phương trong việc xác nhận các thủ tục, hoàn thiện hồ sơ để trình Chính phủ xóa nợ.

- Một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình xử lý thu hồi nợ xấu là:

Do hoạt động SXKD của khách hàng gặp khó khăn, không có hiệu quả, thua lỗ thậm chí là ngừng hoạt động, một số khoản nợ xấu phát sinh do chủ doanh nghiệp bị đi tù...khiến khách hàng không còn khả năng trả nợ.

Ngoài ra, một số khách hàng do hạn chế về trình độ, kỹ năng quản lý nên đầu tư mở rộng quá mức hoặc không quản lý được dòng tiền của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng nợ đến hạn thanh toán nhưng nguồn thanh toán lại về chậm hơn dự kiến, do đó xử lý nợ xấu bị kéo dài trong khoảng thời gian thiếu nguồn thanh toán.

- Một nguyên nhân nữa phải kể đến đó là: Tình trạng khách hàng vay vốn, sau đó cố tình cho vay lại (điều này thường xảy ra đối với cá nhân/hộ vay vốn kinh doanh) hoặc do thiếu hiểu biết nên đã tự ý chuyển giao nghĩa vụ nợ cho người khác.

Về mặt pháp lý, khách hàng vẫn là người chịu trách nhiệm thanh toán các nghĩa vụ nợ tại ngân hàng. Tuy nhiên, họ lại giao lại toàn bộ nghĩa vụ nợ này cho người khác mà không hề có sự giám sát hay ràng buộc nào. Chỉ đến khi ngân hàng thông báo về tình hình khoản vay quá hạn, phát sinh nợ xấu thì khách hàng mới biết. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý thu hồi nợ do người chịu trách nhiệm pháp lý lại không có khả năng trả nợ. Mặt khác, xét về tình thì khách hàng cũng là người bị hại do đó việc xử lý nợ thường phải kéo dài và khó khăn do ngân hàng khó có thể tiếp cận xử lý trực tiếp đối với người vay lại, trừ trường hợp

Một phần của tài liệu Ng©n hµng n«ng nghiöp vµ (Trang 72 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(109 trang)