Mối quan hệ giữa các tố chất vận động và đặc điểm lứa tuổi trong huấn luyện thể lực bóng chuyền

Một phần của tài liệu Giáo trình bóng chuyền (Trang 128 - 133)

Chương IV. Huấn luyện thể lực trong bóng chuyền

4.5. Mối quan hệ giữa các tố chất vận động và đặc điểm lứa tuổi trong huấn luyện thể lực bóng chuyền

4.5.1. Mối quan hệ giữa các tố chất vận động trong huấn luyện thể lực bóng chuyền

Huấn luyện thể lực cho VĐV là quá trình sư phạm nhằm phát triển và giáo dục các tố chất thể lực: nhanh, mạnh, bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp. Phát triển các tố chất thể lực có nghĩa là tăng cường và mở rộng khả năng giới hạn của các tố chất thể lực trong thực tiễn hoạt động thể thao. Đó là kết quả của việc đưa lượng vận động với cường độ cao vào trong quá trình tập luyện. Giáo dục các tố chất thể lực là nhằm biến các tố chất đó vào thực tiễn ý thức của VĐV; trên cơ sở đó họ có thể điều khiển được tất cả các tố chất thể lực phù hợp với nhiệm vụ vận động đề ra…

Các tố chất thể lực của con người có mối quan hệ biện chứng, thống nhất và ràng buộc chặt chẽ với nhau, tuân theo quy luật: Sự phát triển tối đa của một năng lực thể chất nào đó chỉ có được trên cơ sở nâng cao các khả năng chức phận chung của toàn cơ thể, vì vậy khi sử dụng các phương tiện, phương pháp, điều kiện chuyên môn để phát triển các tố chất thể lực, thường xem xét dưới ba góc độ cơ bản sau:

- Sự phát triển các tố chất thể lực của cơ thể con người mang tính thống nhất, sự phát triển của một tố chất thể lực nào đó luôn chịu sự ảnh hưởng của các tố chất thể lực khác.

- Sự phát triển tương hỗ giữa các tố chất thể lực và sự “chuyển” lẫn nhau giữa chúng cũng được thể hiện một cách rất rõ nét.

- Sự tác động tương hỗ giữa các tố chất vận động được thể hiện dưới dạng chuyển hóa.

Trong quá trình huấn luyện, việc phát triển các tố chất thể lực được đánh giá dưới góc độ sinh lý học: Cơ chế cung cấp năng lượng cho hoạt động là cơ chế yếm khí, cơ chế ưa khí hay cơ chế hỗn hợp; Hệ thần kinh điều khiển hoạt động của cơ thể và chế độ co cơ là động lực, tĩnh lực hay động tĩnh lực hỗn hợp.

Pharaphen (nhà sinh lý học người Nga) đã dựa trên cơ chế hoạt động của cơ và đặc điểm cung cấp năng lượng cho hoạt động thể lực để chia các bài tập thành bốn vùng cường độ khác nhau: Vùng cường độ cực hạn;

Vùng cường độ dưới cực hạn; Vùng cường độ lớn; Vùng cường độ trung bình. Do đó, trong quá trình giáo dục các tố chất thể lực, GV, HLV phải hiểu rõ đặc tính sinh lý của các bài tập trong các vùng cường độ để sử dụng các phương pháp khác nhau cho có hiệu quả.

Trong các tố chất thể lực thì mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động là hai tố chất căn bản để bổ trợ cho 3 tố chất nhanh, mạnh, bền. Tuy nhiên, từ thực tế huấn luyện và đặc trưng các môn thể thao cho thấy, 3 tố chất này ít khi đứng riêng lẻ mà thường kết hợp với nhau để tạo nên tố chất mới mang tính trung gian, như công thức pha màu trong hội họa. Chẳng hạn, trong bóng chuyền khi chuyền bóng cao tay cần đưa bóng đa xa  cần phải có sức mạnh tối đa; Khi phòng thủ bước một hay chắn bóng thì ngoài năng lực phán đoán phải, cần di chuyển nhanh đến vị trí thích hợp (tốc độ di chuyển và phản xạ); Để đập bóng mạnh và nhanh hay bật cao chắn bóng  cần có sức mạnh bộc phát; Khi cần duy trì các kỹ thuật đệm, chuyền, phát, đập, chắn bóng và di chuyển phòng thủ liên tục trên sân  cần có sức bền tốc độ…. Do đó, có thể thấy, bóng chuyền là môn thể thao đòi hỏi tổng hòa các tố chất vận động (Lương Cao Đại, 2018)

Hình 4.3. Mối tương tác giữa các tố chất vận động trong huấn luyện thể lực bóng chuyền

Theo đó:

- Các tố chất mềm dẻo và khả năng phối hợp đóng vai trò cơ bản.

- Sức nhanh là yếu tố bổ trợ để thực hiện tốt các động tác kỹ thuật.

- Sức bền manh tính chất quyết định trong những điểm số giằng co của cuối hiệp đấu hay của hiệp quyết thắng.

- Sức mạnh đóng vai trò quan trọng nhất trong bóng chuyền thể hiện ở những pha đập bóng uy lực, bật cao chắn bóng hay bật nhảy phát bóng ghi điểm trực tiếp…

4.5.2. Đặc điểm lứa tuổi trong huấn luyện thể lực bóng chuyền Như đã trình bày ở trên, tố chất thể lực phát triển có tính giai đoạn và không đồng đều, tùy thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi. Trong quá trình đào tạo, huấn luyện VĐV bóng chuyền để đạt thành tích cao thì cần quá trình lâu dài, VĐV phải được tuyển chọn và bắt đầu huấn luyện bài bản từ rất sớm về mọi mặt (kỹ - chiến thuật, thể lực, tâm lý, đạo đức, nhân cách…).

Hình 4.4. Tỷ trọng các nội dung bài tập bóng chuyền lứa tuổi SV (19-20 tuổi)

Để phân bổ, sắp xếp thời lượng các nội dung này sao cho khoa học, hài hòa với từng lứa tuổi, trình độ của VĐV là câu hỏi đầy thách thức tài năng của mỗi HLV.

Hình 4.5. Tỷ lệ các nội dung bài tập thể lực bóng chuyền lứa tuổi SV (19-20 tuổi) Về vấn đề này, Ricardo Vargas Rodríguez (1982), tác giả cuốn La preparación física en voleibol (Chuẩn bị thể lực trong bóng chuyền) đã chia tỷ trọng các nội dung tập luyện bóng chuyền theo từng độ tuổi. Theo đó, lứa tuổi SV trung bình khoảng 19-20 sẽ có tỷ lệ các yếu tố huấn luyện như sau: Thể lực chiếm 30%; Kỹ thuật chiếm 30%; Chiến thuật chiếm 40% - nhiều nhất.

Trong 30% thể lực được chia ra thành thể lực chung và thể lực chuyên môn, mỗi phần lại được phân nhỏ và có tỷ lệ cụ thể cho từng tố chất riêng biệt:

- Thể lực chung: Các bài tập sức mạnh được chú trọng nhất với tỷ lệ 30%, kế tiếp là sức bền chiếm 25%, sau đó là tốc độ 20%, ép dẻo 15% và cuối cùng nhanh nhẹn, khéo léo là 10%.

- Thể lực chuyên môn: Các bài tập sức mạnh vẫn được ưu tiên hàng

đầu với tỷ lệ 35%, trong khi bền tốc độ chiếm 30%, còn tốc độ 20%, sau cùng nhanh nhẹn, khéo léo là 15% thời gian tập luyện.

Tác giả Y.D.Zeletnialk đã khái quát nội dung tập luyện theo từng độ tuổi như hình trình bày dưới đây.

Hình 4.6. Tỷ trọng các nội dung tập luyện bóng chuyền theo độ tuổi Y.D.Zeletnialk cho rằng, phần thể lực chung nên tập trung nhiều (40%) cho lứa tuổi nhỏ mới bắt đầu tập bóng chuyền (10-12 tuổi), sau đó giảm dần chỉ còn 10% ở lứa tuổi SV (19-20 tuổi). Trong khi đó, phần thể lực chuyên môn là luôn ổn định với tỷ lệ 20% đều cho các lứa tuổi. Phần kỹ thuật khởi đầu từ 30% cho các lứa tuổi 10-14 sau đó tăng lên 35% cho các lứa tuổi 15-18 và lại giảm còn 30% ở lứa tuổi 19-20. Phần chiến thuật tăng dần khá đều từ 10% lứa tuổi 10-12, sau đó 20-25% cho lứa tuổi 13-16, sau đó là 35-40% với lứa tuổi 17-20.

Như vậy, có thể thấy lứa tuổi SV (19-20 tuổi) do cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh nên phần huấn luyện thể lực có phần giảm thấp nhất so với các lứa tuổi nhỏ hơn nhưng vẫn đạt tỷ trọng 30%. Trong khi tư duy nhận thức SV đã đạt mức cao nên phần chiến thuật được đầu tư nhiều nhất với 40%, cao nhất so với các lứa tuổi còn lại.

Một phần của tài liệu Giáo trình bóng chuyền (Trang 128 - 133)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(250 trang)