Chương VI. Phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tài bóng chuyền
6.2. Các hình thức tổ chức thi đấu bóng chuyền
Căn cứ vào tính chất, quy mô của giải, số lượng các đội tham gia, điều kiện sân bãi, thời gian thi đấu, kinh phí… mà quyết định hình thức thi đấu cho phù hợp và đạt hiệu quả cao.
Trong thi đấu bóng chuyền thường áp dụng 3 hình thức sau:
- Đấu loại trực tiếp.
- Đấu vòng tròn.
- Đấu hỗn hợp (kết hợp của hai loại hình thức trên).
6.2.1. Đấu loại trực tiếp
Đấu loại trực tiếp thường được áp dụng 2 hình thức:
- Trực tiếp một lần thua.
- Trực tiếp hai lần thua.
6.2.1.1. Đấu loại trực tiếp một lần thua
Đấu loại trực tiếp một lần thua là 2 đội gặp nhau, đội nào thua bị loại ngay. Đây là hình thức đơn giản, dễ tổ chức, dễ theo dõi thành tích, thời gian thi đấu ngắn, có nhiều đội tham gia. Tuy nhiên, hình thức thi đấu này có mặt hạn chế là do số trận đấu ít nên không đánh giá được chính xác trình độ của các đội, trường hợp may rủi dễ xảy ra.
Hình thức này có 2 cách lập biểu đồ thi đấu như sau:
- Nếu số đội tham gia = 2n thì cho bốc thăm và các đội thi đấu với nhau. Ví dụ: Có 8 đội (= 23) thì thi đấu theo biểu đồ như sau:
Hình 6.2. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp với 8 đội
- Nếu số đội tham gia không = 2n thì ta phải tính số đội phải thi đấu trước theo công thức sau:
X = 2 . (a - nn) Trong đó: X là số đội thi đấu trước.
a là tổng số đội tham gia thi đấu.
n là số tự nhiên sao cho 2n nhỏ hơn và gần bằng tổng số đội tham gia.
Ví dụ: Có 11 đội tham gia thi đấu. Theo công thức ta có: X = 2. (11 - 23)
= 6 đội.
Như vậy có 6 đội thi đấu trước, các đội còn lại bắt đầu thi đấu sau 6 đội này. Biểu đồ thi đấu của 11 đội như sau:
Hình 6.3. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 11 đội Có thể tham khảo một số biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua khác như sau:
Hình 6.4. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 5, 6, 7 đội
Hình 6.5. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 9,10 đội
Hình 6.6. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 11, 12 đội
Hình 6.7. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 13, 14 đội
Hình 6.8. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 15, 17 đội
Hình 6.9. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 18, 19 đội
Hình 6.10. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 20, 21 đội
Hình 6.11. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp một lần thua với 22, 23 đội Công thức tính số trận đấu:
X = A - 1
(trong đó X là tổng số trận đấu, A là tổng số đội)
Muốn tính số trận thi đấu theo thể thức trực tiếp 1 lần thua, ta lấy tổng số đội tham gia trừ đi 1.
Ví dụ: Với 8 đội tham gia, số trận đấu là 8 - 1 = 7 trận.
Với 11 đội tham gia, số trận đấu là 11 - 1 = 10 trận.
6.2.1.2. Đấu loại trực tiếp 2 lần thua
Đấu loại trực tiếp 2 lần thua khắc phục được sự “may rủi”, đảm bảo đánh giá trình độ thứ hạng của các đội, đấu thủ chính xác hơn đấu loại trực tiếp 1 lần thua. Theo phương thức này, đầu tiên các đội nào thắng sẽ tiếp tục thi đấu ở một bảng chính, các đội thua sẽ gặp nhau trực tiếp ở một bảng phụ, nếu lại thua sẽ bị loại ra khỏi giải. Cả hai bảng cứ thế thi đấu chọn ra đội nhất của mỗi bảng để tiếp tục thi đấu với nhau ở trận chung kết.
Trong trận chung kết, nếu đội ở bảng chính thua thì phải đấu thêm một trận nữa (vì đội này mới thua một lần). Trận đấu lại đội nào thắng sẽ vô địch. Tuy nhiên, việc lập sơ đồ và theo dõi các trận đấu khá phức tạp, đòi hỏi phải tỉ mỉ, chu đáo.
Cách lập sơ đồ theo dõi kết quả thi đấu gồm 2 phần:
a. Đầu tiên, tất cả các đội tham gia giải đều xếp vào một sơ đồ giống như sơ đồ thi đấu loại một lần thua. Sơ đồ này gọi là sơ đồ A (Bảng chính), các đội, đấu thủ thắng (chưa thua lần nào) sẽ thi đấu ở sơ đồ này.
b. Sau vòng đấu đầu tiên, các đội thua được xếp xuống sơ đồ B (Bảng phụ), sơ đồ này gồm các đội đã bị thua 1 lần. Đội, đấu thủ nào thua thêm 1 lần nữa ở sơ đồ B sẽ bị loại. Các đội, đấu thủ ở sơ đồ A bị thua ở
vòng đấu nào thì được xếp vào sơ đồ B ở vòng đấu tương ứng.
Đội, đấu thủ thắng liên tục ở sơ đồ A sẽ gặp đội, đấu thủ thắng liên tục ở sơ đồ B và nếu đội, đấu thủ ở sơ đồ A lại thắng thì sẽ là vô địch. Nếu đội, đấu thủ ở sơ đồ B thắng thì phải đấu thêm một lần nữa (vì đội, đấu thủ ở sơ đồ A mới thua một lần, bằng số lần thua của đội, đấu thủ ở sơ đồ B), trong trận này đội, đấu thủ ở sơ đồ nào thắng thì sẽ vô địch.
Tổng số trận đấu của giải theo phương thức này được tính theo công thức:
X = 2 (a - 1) Trong đó: - X là tổng số trận đấu.
- a là số đội tham gia thi đấu.
Ví dụ: Với 8 đội tham gia thì tổng số trận đấu là:
X = 2 (8 - 1) = 14 trận Biểu đồ thi đấu được sắp xếp như sau:
Hình 6.12. Biểu đồ thi đấu loại trực tiếp 2 lần thua với 8 đội 6.2.2. Đấu vòng tròn
Thi đấu theo hình thức vòng tròn tính điểm gồm 2 thể thức:
- Gặp nhau 1 lượt.
- Gặp nhau 2 lượt.
Ưu điểm của thể thức này là có thể xác định một cách chính xác trình độ của các đội, xếp hạng một cách công bằng tránh được hiện tượng may rủi hoặc các đội mạnh loại nhau ngay từ đầu. Đội thắng là đội đạt được số điểm cao nhất.
Nhược điểm là hạn chế số đội tham gia, thời gian thi đấu kéo dài, công tác tổ chức và trọng tài tốn nhiều công sức, kinh phí. Do đó hình thức này chỉ thường áp dụng với giải có ít đội tham gia.
Khi tiến hành tổ chức thi đấu theo hình thức này phải xác định được tổng số trận đấu và số ngày cần cho thi đấu. Thi đấu theo thể thức gặp nhau 2 lượt phải tăng gấp đôi số trận đấu và số ngày thi đấu.
- Công thức tính số trận đấu vòng tròn 1 lượt:
A (A - 1) 2 X = Trong đó: - X là tổng số trận đấu.
- A là tổng số đội tham gia.
Ví dụ: Có 9 đội tham gia giải thì số trận đấu là:
+ Nếu tổng số đội tham gia thi đấu là số lẻ thì số vòng đấu bằng số đội tham gia.
+ Nếu tổng số đội tham gia thi đấu là số chẵn thì số vòng đấu bằng tổng số đội trừ đi 1 (A - 1) (Xem bảng 1 và 2).
Bảng 6.1. Lịch thi đấu vòng tròn tính điểm cho 7 đội
Vòng đấu Vòng 1 Vòng 2 Vòng 3 Vòng 4 Vòng 5 Vòng 6 Vòng 7 Trận 1 1 - 0 1 - 7 1 - 6 1 - 5 1 - 4 1 - 3 1 - 2 Trận 2 2 - 7 0 - 6 7 - 5 6 - 4 5 - 3 4 - 2 3 - 0 Trận 3 3 - 6 2 - 5 0 - 4 7 - 3 6 - 2 5 - 0 4 - 7 Trận 4 4 - 5 3 - 4 2 - 3 0 - 2 7 - 0 6 - 7 5 - 6
Chú ý: Đội nào gặp số 0 được nghỉ trận đó.
Bảng 6.2. Lịch thi đấu vòng tròn tính điểm cho 6 đội
Vòng đấu Vòng 1 Vòng 2 Vòng 3 Vòng 4 Vòng 5
Trận 1 1 - 6 1 - 5 1 - 4 1 - 3 1 - 2
Trận 2 2 - 5 6 - 4 5 - 3 4 - 2 3 - 6
Trận 3 3 - 4 2 - 3 6 - 2 5 - 6 4 - 5
Để đảm bảo công bằng, thứ tự các đội được thức hiện bằng cách rút thăm. Đồng thời, khi xếp lịch cũng cần tính tới thời gian nghỉ giữa hai trận đấu của mỗi đội và phải đảm bảo sao cho số lần thi đấu buổi sáng, buổi chiều và buổi tối của mỗi đội gần tương đương nhau.
Để theo dõi kết quả thi đấu của các đội theo thể thức vòng tròn và làm căn cứ xếp hạng cho các đội tham gia, ta phải lập bảng thống kê kết quả thi đấu toàn giải. Khi chia bảng, nên dựa vào thành tích của các đội (đấu thủ) đã đạt được ở giải trước chọn làm hạt nhân (kể cả đơn vị đăng cai) để chia đều các bảng, tránh dồn các đội mạnh vào một bảng.
Ví dụ: Có 5 đội tham gia giải, ta có bảng thống kê kết quả thi đấu như sau:
Lưu ý: Trong thực tế, kết quả toàn giải sẽ có 2, 3… đội bằng điểm nhau. Vì vậy cần căn cứ biên bản thi đấu của từng trận đấu để tổng hợp kết quả tổng số: Hiệp thắng, hiệp thua, tỉ số điểm từng hiệp đấu của từng đội để làm căn cứ xếp hạng chính xác cho các đội tham gia giải (trên cơ sở dựa vào luật và điều lệ của giải đã quy định).
6.2.3. Thi đấu hỗn hợp
Thi đấu theo thể thức hỗn hợp được áp dụng khi tổng số đội tham gia giải quá đông, thời gian không cho phép kéo dài ngày mà phải xác định được đội từ thấp tới cao. Lịch thi đấu theo thể thức này thường sử dụng theo các phương thức sau:
- Các đội tham gia được chia theo từng khu vực (xã, huyện, tỉnh…).
Mỗi khu vực thi đấu theo thể thức loại trực tiếp (một hoặc hai lần thua) để xác định đội nhất bảng. Sau đó các đội thi đấu vòng tròn tính điểm để xác định đội vô địch.
- Các đội tham gia được chia đều theo từng bảng (có tính đến ưu tiên thành tích để chọn hạt giống), ở mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn tính điểm xác định đội nhất bảng. Sau đó, các đội này tiếp tục thi đấu ở vòng bán kết và chung kết (thi đấu chéo) để tìm ra đội vô địch.
Ví dụ: Có 16 đội tham gia được chia thành 4 bảng, mỗi bảng 4 đội.
+ Giai đoạn 1: Các bảng đấu vòng tròn tính điểm chọn ra đội nhất bảng.
+ Giai đoạn 2: Thi đấu chéo hoặc đấu loại trực tiếp giữa các đội nhất bảng với nhau để tìm 4 đội vào bán kết.
Tiếp tục vòng chung kết thi đấu tranh nhất, nhì giữa hai đội thắng và tranh ba, tư giữa hai đội thua.