Mỗi làng thường tin rằng cộng đồng mình có liên quan huyền bí với một siêu nhiên, tương tự như “thần hộ mệnh”. Nó tàng ẩn ở một vật thể được coi là linh thiêng, thường để ở gươi và được coi như “bùa hộ mệnh” tập thể. Đó là những vật có hình thù lạ, hoặc xuất hiện/có được một cách khác thường,
chẳng hạn xưa ở làng Ra-lâng (xã Ra-công, Nam Giang) có người nhặt được trong rừng một hòn đá trắng hình con chó, dân làng đã lấy đó làm vật thiêng chung cho họ. Có làng, ví dụ làng Arầng (xã Axan) trước kia, lại trồng loại cây ma thuật (ca-li) thay thế vật thể thiêng”, Khi thấy có tín hiệu gì đó phát ra từ vật thiêng, người ta cho rằng đó là trạng thái nó “khó chịu”, và qua đó cho biết có động, có chuyện (như: sắp xảy ra dịch bệnh, chết chóc, hoặc sắp có sát phạt nhau, hay có quan hệ trai gái bất chính), khiến họ phải xét đoán để hành động cho hợp với sự chỉ báo đó của nó. Trước khi di chiến đấu, họ làm lễ cầu cúng, mời siêu linh này đi cùng và phù hộ cho.
Guol la dia diém sinh hoại tôn giáo chủ yếu của cộng đồng dân làng. Trừ các lễ cúng riêng của gia đình hay cá
1. Theo ông Alang Zi} mo ti. cay chỉ cao cỡ chai bia và có 4-5 lá dài hình kiểm: loại cây này đơn độc, không có những cây con mọc thêm ra.
nhân, còn những lễ cúng mang tính cộng đồng của dân làng
hầu như đều tổ chức ở ngôi nhà chung này và do già làng chủ trì. Như trên đã giới thiệu, ở đó thể hiện tín ngưỡng và cũng là nơi diễn ra những lễ thức liên quan dén san bat.
Gươi còn là nơi tiến hành các nghi lẻ cúng tế theo chu kỳ canh tác hằng năm, tập trung vào 4 thời điểm:
Thứ nhất, khi trỉa xong lúa rẫy, các gia đình đem thóc giống còn thừa (hoặc bổ sung thêm thóc không phải để giống) giã gạo và nấu cơm để làm lễ cúng tập thể rồi liên hoan tại gươi. Đó là lễ cúng cầu lúa mọc đều và lên xanh tốt. Trong số lễ vật thế nào cũng có bánh acuốứ, loại bánh gói bằng gạo nếp, không có nhân.
Thứ hai, khi mở đầu vụ tuốt lúa rẫy, các gia đình tiến hành lễ cúng chung tại gươi để cầu bội thu. Lễ vật có cơm
#ạo mới và cốm nếp rang.
Thứ ba, lễ ăn lúa mới vào dịp mở cửa kho cũng tổ chức tại gươi, toàn thể dân làng tham gia và cùng nhau ăn cơm mới sau vụ thu hoạch.
Thứ tư, mở đầu tết cổ truyền, làng có lễ cúng chung tại
gươi, các gia đình đem xôi nếp, rượu, thịt... tới tham dự.
Hôm đó làng cữ tiếp khách.
Ngoài ra, đặc biệt là những lễ cúng của làng có hiến tế bằng trâu đều diễn ra ở phía trước và bên trong gươi.
Bình thường, làng cúng cầu an mỗi năm một lần vào ngày tất niờn, nhõn địp tết, gọi là bhuổùh giỏp cơ-mo (“cỳng
gidp nam”). Con vật dùng hiến tế là trâu hoặc bò. Nhưng khi trong làng xảy ra dịch bệnh nặng nề, hay có sự chết chóc khác thường, hay tai nạn nhiều, hoặc không “trong sạch” (tức là có vụ việc vi phạm tập tục, đặc biệt về phương diện quan hệ nam nữ), làng phải làm lễ cúng đất cúng rừng
(dah biol), dé cau xin các “ma đất, ma sông, ma rừng, ma
suối” (abluti ca-tiéc ca-rung co-lung déc) không làm hại dân làng. Lễ cúng làng nếu có hiến tế bằng trâu, dê, chó thì cữ khách 6 ngày, nếu dùng lợn, gà thì chỉ cữ một ngày.
Người Cơ-tu rất khắt khe đối với trường hợp trong làng có quan hệ trai gái bất chính, vì theo họ, các ma sẽ khó chịu và bị đau, nên sẽ “gây sự” và làm hại dân làng. Do đó, quan hệ trai gái bất chính bị coi là trọng tội, bởi sẽ gây hậu hoạ cho cả cộng đồng. Hỏi cuối những năm 1950, ở làng Prning (xã Lăng) đã xử một vụ nghiêm trọng như sau: Một phụ nữ đã có chồng ăn nằm với 3 chàng trai trẻ và một cô gái chưa chồng quan hệ ái tình với 4 người đã có vợ. Cả hai đều chửa hoang và sinh con gần như đồng thời. Hai người đã bị làng đuổi vào rừng, xem như bị khai trừ khỏi cộng đồng. Còn 7 người nam giới dính líu phải cùng nhau chịu phạt để giải hạn cho làng. Theo phong tục, họ kiếm con đơi (hoặc sóc bay), chó trắng, cá bống, xác nhện lột, mỗi thứ một con, và một ít bỏ hóng, một ít nước 1ã; lấy máu của các con vật đó trộn với nước, bồ hóng và xác nhện trong một ống tre, đem chấm lên trần từng người trong làng và khấn xin thần linh đừng trừng phạt họ, đồng thời cho mình cũng được sống. Thực hiện nghi thức tạ tội và cầu xin này, họ còn phải khiêng một con
lợn trắng đến từng nhà và lấy máu từ tai lợn chấm lên trán mỗi người. Sau khi chôn những con vật nhỏ tại sân làng, già làng nhận lấy con lợn để làm lễ cúng cầu trời đất không hại dân làng và cũng không hại 7 người kia; các bô lão ăn thịt lợn tại sân làng (thanh thiếu niên không được ăn, vì sợ bị lây lôi quan hệ trai gái trái luật tục). Sau đó, 7 người còn phải tốn một con dê để làm lễ cúng ở sân làng (lúc này thanh thiếu niên cũng được ăn thịt dê), rồi một con trâu để cúng cầu an cho làng (cả làng cùng ăn thịt trâu và uống rượu).
Trên đất làng. việc đổ máu là điều tối ky. Nếu xảy ra chuyện đó, tất cả dân làng phải chuyển đi chỗ khác. kẻo sẽ bị siêu nhiên quấy phá.
Nếu khu đất dự định chọn để dựng làng được cho là có ma. ông già làng cùng một số bô lão khác phải thay mặt cho cộng đồng mình tổ chức lễ cúng ma rừng (bhudi co- rung)" tại đó. Người ta hiến sinh bằng đê, chó, gà, trộn tiết của chúng với rượu để hành lễ, cơm cúng thì dùng cơm nếp.
Trong buổi lễ này. một tấm vải Cơ-tu được trương lên làm không gian “thiêng”, kết hợp với tấm phên nan đan bày đặt các lễ vật. Họ thực hiện nghi thức tung một que tre được vót thành tắm xơ bông lên. khi nào nó dính vào tấm vải, nghĩa là không rợi xuống, là dấu hiệu cho thấy ma rừng chấp thuận nguyện vọng của làng. Sau đó dân làng kiêng cữ (điêng) 6 ngày liền rồi mới được tới khai phá đất ở.
1. Đối với dat dé lam ray cũng tương tự, nhưng lễ cúng đo gia đình tự thực hiện và chỉ cần hiến sinh bằng gà.
Việc chọn đất ở của từng nhà cũng được thực hiện thông qua hình thức bói để hôi ý thần linh. Tại khoảnh đất định dựng nhà, ông chủ gia đình phát dọn một chỗ rồi dựng đứng một khúc tre hay nứa làm cái giá đỡ, trên đỉnh có đặt quả trứng gà đã chọc thủng sắn một lỗ. Ông ta khấn đại ý rằng: tôi sẽ làm nhà ở đây, giờ tôi đốt quả trứng này, phía đằng tôi là phía người, phía bên kia là phía ma, nếu sống ở đây mà tôi được khoẻ mạnh, yên lành thì trứng hãy trần về phía tôi, nếu đất này tôi không ở được thì trứng hãy trào sang phía ma. Sau đó ông ta đốt lửa nướng quả trứng và xem trứng sôi lên trào ra về phía nào để biết điểm báo, mà điều đó là quyết định đối với việc có làm nhà hay không tại vị trí đã ướm chọn. Có khi họ quy ước 4 hướng: ma, người, trời, đất, nếu trứng trào về phía trời hoặc phía đất là tốt,
được hiểu là trời đất thuận ý cho dựng nhà ở đó.
Nhà ở dựng theo tập quán tránh để cửa nhìn thẳng về hướng đông và hướng tây là hướng nằm của người chết ở nhà mồ. Hướng của nhà gươi tuy phải lựa theo thế đất, nhưng cửa cũng không trực diện một trong 2 hướng này.
Người Cơ-tu tin rằng, nếu làm nhà trái tập tục đó, dân làng sẽ hay bị bệnh tật, người làng khác sẽ hay đến gây sự...
Lễ thức trong quá trình làm nhà ở tập trung vào 4 thời điểm theo tiến trình công việc và đều do ông chủ gia đình làm chủ lễ. Sau khi người nhà vào rừng chặt về một cây cột và một cây rui hay kèo, phải làm lễ “cúng hỏi” (buổijt ta-rmo) để xin ý thần linh, lễ vật thường là một con gà. Hôm ấy cữ
khách vào nha‘ va dém ay 6ng chi nhà xem báo mộng.
Trong lời khấn khi cúng, ông ta hẹn với thần linh rằng hãy phù hộ để việc làm nhà suôn sẻ, không xảy ra tai nạn, rồi khi làm xong sẽ cúng thần một con trâu hay con lợn, tuỳ ông ta dự định. Một chai rượu cúng sẽ được giữ lại như để làm chứng về lời hứa hẹn mang tính “giao kèo” đó. Nếu giấc mơ tốt, nghĩa là thần linh chấp thuận, từ hôm sau việc lấy gỗ triển khai bình thường, bằng không thì chờ vài tháng sau và khi ấy sẽ phải làm lại lễ thức thỉnh ý thần lính này®?.
Đang dựng nhà, nếu có tiếng sấm mới thì họ phải dừng công việc, tháo đỡ tất cả ra rồi hôm khác sẽ dựng lại.
Khi đã dựng xong cột và lắp xà dọc theo từng hàng cột, có lễ thức “cúng dựng nhà” (buốih pa-đâng đông) tại chính giữa nền nhà, với lễ vật là lợn, gà, trứng gà, cá khô. Người ta cầu xin trời đất nói chung (ab6é jang) phi ho cho duge may mắn, tốt lành, khi đang làm nhà cũng như sau này ở nhà mới.
Lễ lên nhà mới (xuôn đông) bắt đầu vào giữa đêm, thực hiện một cách lạng lẽ trong nội bộ gia đình. Họ nhóm bếp, vừa vấy tiết gà khắp trong nhà vừa khấn cầu an. Sau đó cả
1. Người vi phạm kiêng cữ hôm đó phải nộp phạt con gà để chủ nhà làm lễ cúng tạ lỗi với thần linh.
2. Cả khi sửa nhà người ta cũng rất coi trọng xem điểm báo qua chiêm bao.
Một ví dụ: tháng 7/2004, một người ở thôn Prning (xã Lãng) dỡ bỏ một bức phén vách trong nhà bếp để tạo không gian rộng. có chỗ nấu rượu chuẩn bị cho đỏm cưới của con trai. Đờm ấy, Ong ta mơ thấy chiếc xe ử-tụ UAT đồ và có hai anh bộ đội bị chết. Đó là điểm đữ. Vì vậy, sáng hôm sau ông ta phải bất gà làm lễ cúng cầu an.
nhà ăn cơm với thịt gà rồi đi ngủ. Sáng hôm sau, khoảng 6 gid (gid chan), một người ngoài đến xông nhà, là người có gia đình yên ấm (ông già làng, hay con rể, hay ông thông gia), đã được mời từ trước. Ông ta đem mừng nhà mới cái ché, hay chiếc chiếu, hay con lợn, đặc biệt đem theo chiếc lưỡi câu để móc vào một cây cột quan trọng nào đó trong nhà, ngụ ý gia đình này ở nhà mới sẽ làm ăn may mắn, mọi chuyện bén lẹ dễ dàng như lưỡi câu. Gia đình mời ông ta cùng ăn uống vui vẻ và tặng lại ông ta một món quà, thường là tấm vải. Bà con đân làng cũng tới dự liên hoan mừng nhà mới. Còn lễ khánh thành nhà thì cần chuẩn bị, vì phải có trâu, hoặc bò, chí ít cũng phải có lợn to..., cho nên thường chậm lại ít lâu, chừng một tháng sau. Lễ khánh thành nhà của gia đình ông Cơ-lâu Nâm ở thôn Prning (xã Lăng) chưa phải loại lớn, nhưng đã chỉ phí hết 2 con lợn rừng, một con sơn dương, một con dê, 2 con lợn nuôi, một con nghé, 10 con gà, 30 ống cá, 30 ang gạo và 100 lít rượu.
Ngày khánh thành nhà, chai rượu cúng giữ lại từ hôm hỏi ý thần linh (đã nói trên) được lấy ra làm lễ cúng, cùng với rượu mới nữa. Đây là dịp báo với thần linh về việc hoàn thành ngôi nhà, tạ ơn thần linh đã phù hộ và cầu xin thần lình cho cuộc sống bình an tốt lành trong ngôi nhà mới.
Đồng thời, cũng rất quan trọng, đây còn là dịp khoản đãi với hàm ý cảm ơn dân làng đã giúp đỡ nhiều công sức trong quá trình làm nhà.
Lễ thức làm gươi cũng diễn ra theo các bước tương tự, nhưng do già làng hoặc một ông già khác làm chủ lẻ, phải
là người đức độ, bản lĩnh và gia đình hạnh phúc. Sau khi lấy về vài cây cột (không phải cột cái), mấy cây tre, ít dây mây và ít lá lợp, chọn ngày ca-lang người ta thực hiện lễ cúng báo với thần làng, thần cây... và cầu xin phù hộ không bị trắc trở. Vật hiến sinh là con gà trống và con lợn cái.
Lễ dựng nhà cũng nhằm ngày ca-iang, cúng bằng 2 con lợn đực (một con cúng các cột nhà, một con cúng đất) và một con gà mái. Trong lễ cúng có việc vấy tiết lợn về các hướng và vấy cả lên các cây cột. Làm lễ và ăn uống xong người ta mới đào lỗ để dựng 2 hàng cột bên trước...
Làm nhà xong, chọn ngày ca-lang, có lễ nhóm lửa vào bếp, đồng thời mời Cứ-mor bar về ở gươi mới. Lễ vật chớnh là một con lợn cái và một gà trống. Trong lễ này người ta có gõ trống.
Lễ khánh thành gươi mới là lễ hội linh đình, thường tổ
chức vào ngày đhz theo lịch Cơ-tu.
Cần sửa chữa nhà, họ làm lễ cứng trước khi đỡ ra, rồi khi hoàn thành công việc cũng có lễ cúng mừng, nhỏ hơn lễ khánh thành sươi mới.
Ở ngôi nhà chung đó của làng, thường thấy tạc những mặt nạ (cơ-bey) bằng gỗ, tuy có thể không giống nhau, nhưng thường có thể hiện mặt quỷ Ajéh dit ton. Ngudi Co-tu trương hinh Ajéh lên với dụng ý chống lại các thế lực ma ỏc, nhằm bảo vệ sự yờn lành cho ứ:⁄2Ỷ, cũng tức là bảo vệ sự yên lành cho cộng đồng dân làng. Ngoài ra, còn có loại mặt na được người ta đùng đeo che mặt khi nhảy múa trong lễ
thức đâm trâu hoà giải hoặc kết nghĩa giữa hai làng với nhau, mà con trâu tế là do làng làm khách hôm đó đưa tới.
Vào dịp ấy, người ta đeo thêm cả nanh cọp, móng gấu, để hù doa, ngăn chặn ma quỷ từ ngoài theo vào làm hại dân làng. Trong lễ dồn mồ (êng pin), tại nghĩa địa của làng cũng diễn ra cảnh những người đeo mặt nạ nhảy múa, cũng nhằm uy hiếp và xua đuổi ma quỷ. Nói chung, mặt nạ trong xã hội Cơ-tu được sử dụng như một thứ bùa hay lá chắn để trừ ma quý, tức là chống lại các siêu nhiên làm hại con người, kể cả khi họ ăn thịt hổ trong rừng cũng vậy (đã viết ở phần về tín ngưỡng tôn giáo liên quan đến việc săn bất ở trên). Hơn nữa, trong các sinh hoạt tôn giáo có sử dụng mặt nạ, mặt nạ luôn phát huy tác dụng đó trong âm thanh cổng chiêng làm nền cảnh “thiêng” cho nó.
Trong nhà ở của các gia đình, dù đã chuyển sang kiểu
nhà xuyên trính, người Cơ-tu quan niệm có hai cây cột quan trọng nhất, đều ở gian giữa: Thứ nhất là cột đứng phía trước nơi thờ cúng, ở bên phải (nếu ta quay mặt nhìn vào trong nhà); cột này được gọi là “cột cúng” (zrzáng măng) hay “cột giữ” (rứ-ping) - giữ cho dịch bệnh cũng như điều xấu, cỏi ác và sự khốn khó khỏi vào nhà. Đối diện với nó ra phía cửa là cột “xin” hay cột “mời” (plăng) - chỗ để cúng xin muốn mua sắm hay tìm kiếm gì được nấy, không bị trở ngại, có trở ngại cũng vượt qua được (xem sơ đồ dưới đây). Mỗi khi cúng nhà, người ta hành lễ tại hai cột đó và có nghi thức đồ vào chân cột tiết con vật hiến tế cùng với nước lã, bồ hóng, xác nhện và rượu.
Trong nhà, kể cả gươi, phía vách sau được người Cơ-tu gắn với sự linh thiêng và tôn kính, nhất là ở khu vực phía sau của gian giữa: nơi thờ cúng và cũng là nơi trú ngụ của
“ma nhà”, Vì thế, khi nằm, người Cơ-tu tránh quay chân
vào vách sau (xưa kia chỉ được quay đầu về hướng đó),
đồng thời tránh nằm ngay phía dưới xà ngang cũng như phía dưới kèo hay rui tại vị trí có cột nhà (xem sơ đồ dưới đây và ở trang 75). Dưới mái sau của gươi, nếu gài các xương sọ thú dọc theo những cây rui thì phải tập trung các sọ thú lớn hơn vào hai cây rưi bám với hai cột của gian giữa.
O Q Nương trọng CỘ NAS NRE O Cha thich a che
Zrdng mdng
x Hướng nằm
Pliny
O O O O
Người Cơ-tu coi trọng “ma nhà” hay “thần nha” (ang đông). Theo họ, thần nhà phù hộ, bảo vệ cho mọi thành viên trong gia đình. Nó có thể trú ngụ vô hình trong đồ vật (như ché, chiêng chẳng hạn) từ đời xưa để lại. Đặc biệt, thần nhà tối ky chuyện trai gái ngoài phạm vi luật tục cho phép; nếu xảy ra chuyện bừa bãi này trong nhà, nó bị xúc phạm và do đó người trong gia đình không tránh khỏi bị ốm đau bệnh tật do nó gây ra.