CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.2. Các khái niệm chính của đề tài
Hoạt động quản lý xuất hiện từ thuở bình minh của loài người và phát triển cùng với sự tiến bộ của xã hội. Trong quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên, để sinh tồn và phát triển con người cần phải hợp sức với nhau. an đầu là do nhu cầu tự vệ và kiếm sống, về sau là nhằm huy động sức mạnh chung cho các mục đích khác nhau. Những hoạt động cần đến sự phối hợp, điều khiển công việc đều mang dấu ấn của quản lý.
Theo Harold Koontz trong tác ph m “Những vấn đề cốt yếu của quản lý (1994) thì: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm” [28].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –Lê nin đã khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến sự quản lý” [17].
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản l được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”.
Quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam về quản l như sau:
Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [36].
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ: “Quản lý là một quá trình định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [26].
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cộng sự (2010): “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức” [34].
Như vậy, dưới mỗi góc độ khác nhau, mỗi người có một định nghĩa về quản lý.
Từ những định nghĩa trên, tác giả đề tài quan niệm quản l như sau: “Quản lý là hoạt
động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.
1.2.2. Quản giáo dục
Từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến- đạt đến trạng thái mới về chất.
Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động.
Con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục.
1.2.3. Quản nh trường
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu đề ra.
Ở nước ta, nhà trường là đơn vị cơ sở cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quyết định việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Do vậy, quản l nhà trường là quản lý giáo dục trong phạm vi xác định của một cơ sở giáo dục đó là trường học.
Trường học là cơ quan chuyên trách xây dựng con người mới, với nội dung giáo dục được chọn lọc cơ bản và sắp xếp có hệ thống, với phương pháp giáo dục khoa học và đã được kiểm nghiệm thực tiễn, với những phương tiện và điều kiện giáo dục đem lại hiệu quả giáo dục cao, với những nhà sư phạm có nhân cách mẫu mực và được trang bị đầy đủ tri thức chuyên mông, nghiệp vụ.
Hoạt động trung tâm của nhà trường là dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp), quản l nhà trường thực chất là quản lý quá trình dạy học, quản lý giáo viên và học sinh, về cơ bản khác với quản l các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý quản lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [32].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh. Việc quản lý trường học phổ thông là
quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [24].
Trong Giáo dục học (2008), tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [56].
Như vậy, nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của quản lý giáo dục. Thực chất của quản l nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1.2.4. ổ chu ên m n
Theo khoản 1 được quy định tại Điều 14, được quy định tại Thông tư số 28/2020/TT- GDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vê việc an hành Điều lệ Trường tiểu học, có quy định về Tổ chuyên môn như sau:
“Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên theo khối lớp hoặc môn học; nhân viên làm công tác thư Việc, thiết bị giáo dục, công nghệ thông tin, hỗ trợ giáo dục người khuyết tật, tham vấn học đường. Mỗi tổ có ít nhất 03 thành viên; tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 07 thành viên trở lên thì có tổ phó”[15].
Như vậy, Tổ chuyên môn là tổ chức cơ sở của bộ máy hành chính nhà trường;
là nơi trực tiếp quản lý, rèn luyện và bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ, về ph m chất đạo đức nhà giáo…; thông qua các hoạt động của tổ, năng lực giảng dạy và chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên từng bước được nâng cao. Mặt khác, Tổ chuyên môn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ, quản lý kế hoạch và hoạt động của tổ viên; là nơi để triển khai, kiểm tra, đánh giá các mục tiêu và nội dung của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
1.2.5. Hoạt động tổ chuyên môn ở trường tiểu học
Khái niệm hoạt động được hiểu là một phương thức tồn tại của mỗi con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan nhằm tạo ra sản ph m cả về phía thế giới, cả về phía con người.
Dưới góc độ giáo dục, “hoạt động giáo dục” được hiểu là hoạt động truyền đạt và lĩnh hội. Hoạt động của cá nhân chính là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của mỗi người.
“Hoạt động tổ chuyên môn ở trường tiểu học” là tổ hợp các hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được điều hành bởi cán bộ quản lý của trường như tổ trưởng chuyên môn, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; bao gồm hoạt động chuyên môn, các hoạt động hành chính và hoạt động phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Trong đó, hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng yếu, bao gồm các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học và hoạt động sư phạm của giáo viên.
Hoạt động của tổ chuyên môn còn thể hiện các hoạt động:
- Hoạt động giảng dạy của giáo viên;
- Hoạt động chủ nhiệm lớp;
- Hoạt động bồi dưỡng học sinh năng khiếu và học sinh yếu kém;
- Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng;
- Hoạt động làm đồ dùng dạy học;
- Hoạt động ngoại khóa.
Theo khoản 2, 3 được quy định tại Điều 14, được quy định tại Thông tư số 28/2020/TT- GDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo vê việc an hành Điều lệ Trường tiểu học, có quy định về hoạt động của Tổ chuyên môn như sau:
a) Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường.
b) Căn cứ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường, xây dựng và giải trình kế hoạch dạy học các môn học theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học của tổ theo tuần, tháng, học kỳ và năm học.
c) Thực hiện kế hoạch hoạt động chuyên môn của trường, của tổ chủ động và linh hoạt.
d) Đề xuất hiệu trưởng phân công giáo viên dạy và giáo viên chủ nhiệm lớp theo năm học.
đ) Tổ chức cho giáo viên thực hiện lựa chọn sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đề xuất các xuất bản phẩm tham khảo để lựa chọn sử dụng trong nhà trường theo quy định.
e) Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông; tham gia đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng theo Chuẩn hiệu trưởng.
3. Tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất hai tuần một lần để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chuyên môn trên tinh thần xây dựng môi trường thân thiện, tích cực, tự học để nâng cao trình độ và phát triển năng lực chuyên môn.”[15]
Như vậy, hoạt động tổ chuyên môn ở trường tiểu học căn cứ theo điều lệ trường tiểu học thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
1.2.6. Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường tiểu học
Quản lý hoạt động tổ chuyên môn là một dạng của quản l nhà trường, đó chính là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật của chủ thể quản l đến tập thể giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội, các nguồn lực trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng, hiệu quả các hoạt động của tổ chuyên môn.
Nói cách khác, đó là việc hiệu trưởng trường tiểu học bằng cách thực hiện các chức năng quản lý của mình tác động vào tổ chuyển môn (trực tiếp là các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn) để chỉ đạo, hướng dẫn, tạo ra môi trường, cơ chế hoạt động để các tổ
chuyên môn hoàn thành có hiệu quả các hoạt động của mình. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, quản lý hoạt động tổ chuyên môn được hiểu là đặt trong các mối quan hệ như sau:
- Chủ thể quản lý là hiệu trưởng nhà trường, có vai trò chỉ đạo toàn bộ hoạt động của nhà trường; các nội dung quản l khi được chuyển tải đến tổ chuyên môn thì đội ngũ tổ trưởng, tổ phó là các chủ thể quản lý tiếp tục thực hiện các chức năng quản lý của hiệu trưởng theo th m quyền được phân cấp.
- Các lực lượng khác ngoài tổ chuyên môn ở trong trường (tổ chuyên môn bạn, các đoàn thể, các phòng/bộ phận khác...), cha mẹ học sinh và học sinh, các lực lượng xã hội liên quan... được hiểu là các nhân tố phối hợp trong quản lý. Họ có vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn.