THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
2.3 Đánh giá về những biện pháp hạn chế và kiểm soát rủi ro trong thanh toán quốc tế tại NHĐT & PTVN – Chi Nhánh Đông Đô đạt được
2.31 Kết quả đạt được:
Là ngân hàng trẻ tuổi, ra đời sau nên NHĐT & PTVN – Chi Nhánh Đông Đô đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm của các ngân hàng đi trước nhằm hạn chế rủi ro. Với hoạt động nhiệt tình, năng động của đội ngũ nhân viên, NHĐT &
PTVN – Chi Nhánh Đông Đô đã có những bước đi ổn định và ngày càng vững mạnh. Đặc biệt, trong lĩnh vực thanh toán quốc tế ngân hàng đã phục vụ nhiệt tình, hướng dẫn cho khách hàng tìm hiểu rõ hơn về thị trường nước mà doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngân hàng tạo điều kiện cho những khách hàng đến mở L/C với chi phí thấp, độ đảm bảo cao, thu hút ngày càng nhiều khách hàng uy tín, có tình hình tài chính lành mạnh và ổn định. Cùng với sự quan tâm của Ban giám đốc và Hội đồng quản trị tới việc quản lý rủi ro nói chung và rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng, ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả tốt trong việc hạn chế rủi ro:
- Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu bằng L/C qua NHĐT & PTVN Chi Nhánh Đông Đô tăng mạnh trong những năm gần đây, một tỷ lệ mà các ngân hàng đều mong muốn. Ngân hàng dần dần đã tạo được vị thế trong thanh toán quốc tế, thu hút được nhiều khách hàng hơn.
- Có những chính sách hỗ trợ xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp rất tốt, ngân hàng đã mở rộng cho vay tài trợ xuất khẩu, chiết khấu chứng từ. Với cho vay tài trợ nhập khẩu, ngân hàng đã đạt được bước tiến mới, chất lượng tài trợ nhập khẩu bằng L/C không ngừng được nâng cao, các trục trặc về mở L/C giảm thiểu, hoạt động tài trợ được kết hợp hài hoà với hoạt động thanh toán tạo ra một chu kỳ kinh doanh khép kín, mang lại hiệu quả cao cho hoạt động của ngân hàng, phương thức cho vay được đổi mới, chủ yếu sử dụng vay theo hạn mức tín dụng. Những kết quả trên làm khách hàng nhập khẩu rất tin tưởng và giao dịch ngày càng nhiều tại ngân hàng, cho đến thời điểm hiện nay, có đến 197 doanh nghiệp tham gia thanh toán L/C qua ngân hàng.
- Tỷ lệ cho vay bắt buộc và nợ quá hạn L/C giảm đi nhanh chóng, hầu như xuất hiện rất ít nợ mới do ngân hàng đã tiến hành đòi nợ cũ tốt và thắt chặt hoạt động mở L/C trả chậm. Nợ quá hạn năm 2004 giảm 18% so với năm 2003, chỉ còn chiếm 5,1% tổng số dư chưa thanh toán, đạt 370 ngàn USD.
- Chất lượng thẩm định được nâng cao do ngân hàng đã rất chú trọng công tác này. Do việc lựa chọn và sàng lọc khách hàng được thực hiện tốt hơn nên chất lượng khách hàng cũng ngày một tốt hơn.
- Trong những năm gần đây, chưa có vụ tranh chấp nghiêm trọng nào xảy ra tại NHĐT & PTVN – Chi Nhánh Đông Đô, những tranh chấp xảy ra đều được ngân hàng giải quyết dứt điểm, không gây hậu quả và tổn hại kéo dài.
- Ngân hàng đã giữ uy tín với ngân hàng nước ngoài trong thanh toán, đây là tiền đề rất tốt để hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra hiệu quả và gặp ít rủi ro.
Uy tín của ngân hàng ngày một nâng cao, không những đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam mà còn với các ngân hàng trên thế giới.
- Ngân hàng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ thanh toán quốc tế năng động nhiệt tình, được đào tạo chuyên môn kỹ càng, có đạo đức nghề nghiệp.
Điều này góp phần hạn chế rủi ro nhiều trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng.
2.3.2 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngân hàng cũng còn một số khó khăn, hạn chế cần khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế.
Mặc dù đã thực hiện rất nhiều biện pháp để hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế nhưng những rủi ro xảy ra là điều không tránh khỏi. Những rủi ro này không những gây tổn hại về mặt tài chính mà còn làm xâm hại và giảm sút uy tín của ngân hàng. Những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu do rủi ro kỹ thuật như chứng từ còn nhiều sai sót, việc kiểm tra chứng từ và thanh toán diễn ra chậm, rủi ro tín dụng như bảo lãnh L/C trả chậm, cho vay tài trợ xuất khẩu, nhập khẩu…
- Nghiệp vụ hỗ trợ hoạt động xuất khẩu còn hạn chế. Mặc dù nghiệp vụ này có tăng lên qua từng năm nhưng tỷ lệ xuất khẩu vẫn chiếm quá nhỏ trong thanh toán quốc tế. Hoạt động cho vay tài trợ xuất khẩu cũng chưa hoạt động thực sự hiệu quả, khách hàng là doanh nghiệp xuất khẩu còn quá ít, việc chiết khấu chứng từ cũng còn nhiều hạn chế so với nhu cầu của doanh nghiệp.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật ngân hàng còn nhiều hạn chế trong khi thanh toán quốc tế đòi hỏi có máy móc và công nghệ hiện đại. Mạng nội bộ Smart Bank của ngân hàng nhiều lúc còn gặp trục trặc, tình trạng máy bị treo không phải không xảy ra khiến các giao dịch nghiệp vụ diễn ra rất chậm, có khi phải 5 phút mới xong một giao dịch. Ngân hàng cũng đã cài đặt mạng SWIFT nhưng máy cũng còn bị trục trặc, đường truyền kém chất lượng làm cho chất lượng điện không được tốt, ảnh hưởng nhiều đến quá trình thanh toán.
- Cán bộ thanh toán quốc tế tuy có trình độ nhưng còn trẻ nên kinh nghiệm rất ít, khó có thể xử lý công việc khi có rủi ro hay tranh chấp phát sinh.
- Các loại L/C sử dụng chưa đa dạng, phần lớn L/C được sử dụng là L/C không huỷ ngang. Ngoài ra, ngân hàng cũng có L/C tuần hoàn, L/C chuyển nhượng nhưng số lượng còn hạn chế. L/C giáp lưng, chuyển nhượng, tuần hoàn có rất nhiều ưu việt nhưng chưa được sử dụng hiệu quả.
CHƯƠNG III