Chương 3: Nghiên cứu giải pháp xây dựng tường chắn đất có cốt hợp lý tại các nút giao dự án đường vành đai Cầu giấy - Nhật tân
3.7. Chỉ dẫn thi công tường chắn bê tông lưới địa kỹ thuật
- Chế tạo tấm và cốt cùng với các chi tiết liên kết tấm với cốt ở xưởng, vận chuyển và bảo quản chúng tại thực địa;
- Chuẩn bị mỏ đất và các trang thiết bị khai thác, chuyên chở đất đắp tường;
- Chuẩn bị các dụng cụ để đắp đặt mặt tường và cốt (bộ nêm kê chèn, bộ kẹp gá tạm, thước kiểm tra độ thẳng đứng độ nằm ngang và thước kiểm tra khoảng cách lắp tấm);
- Đào và thi công móng, kiểm tra móng và các giải pháp gia cố móng (nếu có);
- Lắp đặt hoặc thi công hệ thống thoát nước theo yêu cầu thiết kế (xem mục II.5 [1] ) và làm hệ thống thoát nước tạm trong quá trình thi công;
- Rải lớp móng đệm tạo phẳng dưới chân tường bao (xem điểm II.4.3 [1]);
- Thiết lập hệ thống mốc định vị và mốc kiểm tra cao độ lắp đặt mặt tường và đắp tường;
-Thiết lập hệ thống quan trắc lún (nếu cần) - xem mục II.7.6[1];
- Công việc này phải được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ và đồng bộ: đắp mặt tường đến đâu, đắp đất và đầm nén chặt rồi rải cốt đến đó. Yêu cầu lắp đặt các tấm mặt tường thật chính xác về cao độ, về hình dạng trên bình đồ và hình dạng chính diện;
Thi công phần đỉnh tường và phần trên đỉnh tường - Lắp đặt các khối đỉnh tường;
- Lắp đặt lan can phòng hộ;
- Lắp đặt hệ thống thoát nước mặt và thi công phần đất đắp phía trên đỉnh tường (nếu có).
3.7.2. Chế tạo, chuyên chở và bảo quản tấm lắp ghép mặt tường Phải có các bản mấu vừa để liên kết với cốt, vừa để cẩu móc bốc dỡ tấm lên xuống xe chuyên chở;
Phải có các móc treo để treo lắp tấm theo phương thẳng đứng. Phải sử dụng các con kê để tấm khỏi bị hư hỏng khi tấm quay từ vị trí nằm ngang tư thế thẳng đứng;
Các tấm bê tông được đúc ở tư thế nằm ngang với mặt ngoài ở phía đáy ván khuôn; mặt trong có bố trí mấu liên kết được đặt ngửa lên trên;
Phải dùng ván khuôn thép và trước khi đúc tấm ở xưởng phải kiểm tra ván khuôn theo các dung sai cho phép về kích thước nói ở trên. Sau khi đổ bê tông xong phải thực hiện chế độ bảo dưỡng nghiêm ngặt và kịp thời;
Hỗn hợp bê tông đúc tấm phải được xét duyệt sau khi đúc thử; chế độ lấy mẫu, lưu mẫu, thử mẫu hàng ngày cũng theo đúng như các quy định chế tạo sản phẩm bê tông khác (ống cống, dầm cầu.v.v..);
Phải kê, lót để tránh tấm bị nứt, bong tróc bề mặt và tránh các chốt, các bản mấu bị cong vênh;
Khi xếp đống phải xếp mặt ngoài tấm quay xuống dưới, mặt có bản mấu quay lên trên, dùng các con kê có bể dày lớn hơn phần nhô tra của bản mấu để kê chồng các tấm, không xếp chồng quá 6 tấm trong đống.
3.7.3. Thử nghiệm đánh giá các chỉ tiêu của đất đắp tường và khảo sát đánh giá khả năng khai thác của mỏ đất
Nhà thầu dưới sự giám sát và kiểm tra của tư vấn phải thí nghiệm xác định các chỉ tiêu vật lý, cơ học và điện hóa của đất dự kiến lấy để đắp tường.
Phải khảo sát đánh giá trữ lượng mỏ đất, khả năng được phép khai thác, điều kiện đường vận chuyển đất từ mỏ đến hiện trường thi công.
Nên tận dụng đất tại chỗ nếu đất tại chỗ đạt được các chỉ tiêu yêu cầu.
3.7.4. Thi công đào móng và xử lý móng
Cao độ đáy móng và các yêu cầu xử lý móng phải tuân thủ đúng bản vẽ thiết kế nhưng khi lập bản vẽ thi công chi tiết cần đối chiếu kiểm tra các yêu cầu về chiều sâu chôn tường.
Chiều rộng đào móng cũng phải bao gồm cả bề rộng bố trí thoát nước ngầm sau tường (nếu có) và phần bố trí thoát nước từ trong thân tường ra ngoài.
Tại chỗ chân tường bao phải đào sâu hơn mặt móng để làm lớp móng đệm chân tường.
Đất đào móng nếu không đạt các chỉ tiêu yêu cầu thì phải vận chuyển hết để bỏ đi, không được đổ lẫn với vật liệu đất đắp tường.
Ðất gia cố lưới ÐKT
Lưới ÐKT
H
Trường hợp tường đặt trực tiếp trên nền đất thiên nhiên thì sau khi đào móng phải kiểm tra độ chặt của đất thiên nhiên, nếu độ chặt này không đạt 0,95 độ chặt tiêu chuẩn thì phải cầy, xới và lu lèn lại để bảo đảm 30cm trên cùng của đất móng đạt được độ chặt 0,95 độ chặt tiêu chuẩn trở lên.
Trong quá trình đào móng phải có biện pháp thoát nước tạm, thoát ngang ra phía dưới chân dốc hoặc dẫn dọc ở phía trong hố móng chỗ giáp với mái dốc đào móng.
Trước khi thi công chân tường phải kiểm tra kích thước, cao độ móng và các giải pháp xử lý:
- Về cao độ mặt bằng móng: đo theo từng mặt cát ngang cách nhau 20m; mỗi mặt cắt do 3 điểm ( điểm giữa và 2 điểm ở 2 mép mặt bằng móng).
Sai số cho phép là ±5cm so với cao độ thiết kế và không được tạo dốc phụ thêm quá 0,5% giữa các điểm đo;
- Nếu tường đặt trực tiếp trên nền đất thiên nhiên thì cứ 20m dọc móng tường phải kiểm tra độ chặt như yêu cầu nói ở trên;
- Kiểm tra đánh dấu định vị chính xác dọc theo tuyến mép ngoài chân tường hoặc theo tim của lớp đệm tạo phẳng chân tường;
- Nếu áp dụng các giải pháp xử lý móng thì phải đối chiếu với yêu cầu ở bản vẽ thiết kế để kiểm tra (kể cả với các cấu tạo thoát nước bố trí ở đáy móng).
Nên cố gắng thi công đào móng trong mùa khô và cần chú trọng có các giải pháp về phòng trượt, sụt sườn dốc tự nhiên do việc đào móng làm mất chân dốc gây ra, đặc biệt là khi tường được đặt trên các sườn dốc tự nhiên có độ dốc ngang từ 50% trở lên. Khi cần thiết có thể phải áp dụng việc đào móng từng đoạn cách quãng và thi công đắp tường cách quãng để vẫn luôn duy trì được sức chống đỡ nhất định dưới chân sườn dốc. Biện pháp này càng cần được áp dụng trong trường hợp tường chắn đất có cốt được xây dựng để chống đỡ chân khối trượt sườn. Lúc này nên lợi dụng các chỗ thay đổi cao độ móng theo chiều dọc tường để phân đoạn.
3.7.5. Thi công lớp đệm tạo phẳng dưới chân mặt tường tấm bê tông xi măng lắp ghép
Lớp đệm tạo phẳng phải đảm bảo yêu cầu về độ bằng phẳng trên bề mặt lớp đệm. Sau khi đổ bê tông phải thực hiện việc bảo dưỡng bằng các phương pháp tạo màng cách nước bọc kín khối bê tông và phải chờ ít nhất 12 giờ mới được phép bắt đầu lắp đặt tấm mặt tường trên lớp đệm.
Trường hợp móng chân tường theo chiều dọc có thay đổi cao độ thì nên bố trí khoảng giật cấp thay đổi cao độ móng bằng 1/2 chiều cao tấm thiết kế.
Thi công xong lớp đệm tạo phẳng lại phải kiểm tra lại:
+ Cao độ dọc theo lớp đệm với sai số cho phép ±3mm;
+ Độ phẳng mặt lớp đệm: Khe hở dưới thước 3m không được quá 5mm;
+ Vị trí tim của lớp đệm: sai số cho phép so với vị trí thiết kế ±5cm.
3.7.6. Thiết kế hệ thống mốc định vị và mốc kiểm tra cao độ phục vụ việc lắp đặt chính xác các tấm mặt tường
Phải lấy dấu vạch liền vị trí lắp đặt từng tấm trong hàng tấm dưới cùng ở trên mặt lớp đệm tạo phẳng;
Đặt các cọc định vịnh để bất kỳ lúc nào cũng có thể dùng máy kinh vĩnh hoặc cách căng dây để kiểm tra tuyến lắp đặt các tấm mặt tường;
Đặt các mốc cao độ ở các vị trí cố định và thuận tiện để luôn có thể từ đó kiểm tra cao độ đỉnh các tấm đang lắp đặt.
3.7.7. Lắp đặt các tấm mặt tường ở hàng dưới cùng - Các lớp phải được cẩu treo theo phương thẳng đứng;
- Hàng tấm dưới cùng phải bảo đảm vị trí đặt tuyệt đối chính xác (theo vạch dấu đã vạch trên lớp đệm tạo phẳng), đỉnh tấm phải đặt thật nằm ngang và bảo đảm đúng cao độ quy định. Dùng xà beng từ phía trong tường để bẩy cạnh dưới tấm vào đúng vị trí đã đánh dấu trên lớp đệm tạo phẳng. Kiểm tra độ nằm ngang bằng cách đặt thước dài 1,20m có bọt ống thủy lên cạnh trên của tấm. Nếu không bằng thì phải dùng các nêm gỗ đã chuẩn bị trước để chêm kê cho bằng. Sau đó, phải chống đỡ tạm từ phía ngoài đối với hàng tấm dưới cùng bằng các thanh chống được chuẩn bị từ trước.
Trong mỗi hàng, thường phải lắp đặt tấm cách quãng; do vậy thường phải kiểm tra khoảng cách giữa các tấm lắp trước trước khi lắp đặt các tấm lắp sau bằng thước đo khoảng cách có chiều dài đúng bằng bề rộng của tấm.
Trong 1 hàng tấm, các chốt của tấm lắp sau phải điều chỉnh để cắm vào lỗ đặt sẵn ở cạnh trên của tấm lắp trước.
Sau khi điều chỉnh vị trí và cao độ, có thể dùng các bộ kẹp gỗ được chuẩn bị từ trước để gá tạm giữa các tấm vừa lắp.
Sau khi hàng dưới cùng được lắp xong, phải tiến hành chèn ngay các khe nối thẳng đứng giữa các tấm. Việc chèn khe phải được thực hiện từ phía mặt trong của tấm.
3.7.8. Đắp các lớp đất đầu tiên và lắp đặt cốt hàng đầu tiên
Công việc này chi được thực hiện sau khi lắp đặt xong và chống đỡ tạm chắc chắn hàng tấm dưới cùng.
Các lớp đất đầu tiên này bao gồm các lớp đắp trong phạm vi chiều dầy kể từ mặt móng đến cao độ đặt hàng cốt dưới cùng. Cách thi công đắp đất:
chưa được đắp sát ra tới mặt sau của tấm vỏ tường, mà phải để cách với mặt sau tấm vỏ tường khoảng 30cm.
Sau khi lu lèn chặt và bảo đảm mặt lớp đất đắp thật phẳng thì tiến hành lắp đặt hàng cốt đầu tiên (đặt cốt vào giữa khe hở của bản mấu và xiết bu lông và tiếp tục đắp đất ngang bằng đỉnh các tấm dưới cùng).
3.7.9. Lắp đặt các hàng tấm tiếp theo, đắp đất và lắp cốt các lớp tiếp theo
Các khâu lắp đặt tấm, đắp đất và lắp cốt được tiến hành tuần tự: lắp tấm đến đâu, đắp đất và đặt cốt đến đó.
Rải tiếp lớp lưới địa kỹ thuật thứ ba.
Thi công lớp đất đắp tiếp với tổng chiều dày 1m (chia làm 3 lớp).
Lắp đặt tấm bê tông tiếp theo và ràng buộc với lưới ĐKT.
Tiếp tục các bước 8, 9, 10 đến khi đạt được độ cao của tường.
Cách lắp đặt tấm và nội dung công việc lắp đặt vẫn được thực hiện như đối với hàng tấm dưới cùng. Chú ý rằng lắp đặt tấm ở hàng trên đến đâu thì mới tháo bộ kẹp gá lắp tạm ở hàng dưới đến đó, đồng thời phải chèn các khe thẳng đứng trước khi đắp đất.
Trước khi lắp đặt các tấm ở hàng trên thì trên các khe nối nằm ngang của các tấm hàng trước phải được đặt các miếng đệm cao su.
Khi lắp đặt các tấm mặt tường phải tạo một độ nghiêng nhẹ, để mặt tường nghiêng vào phía trong. Độ nghiêng này thường trong khoảng 6 ÷ 7%0. Với độ nghiêng dự phòng này, khi đắp đất, dưới tác dụng đầm nén, cuối cùng mặt tường sẽ trở về vị trí thẳng đứng.
Để tạo độ nghiêng phải dùng các nêm gỗ sấy khô chêm chèn ở các cạnh ngắn của tấm và thường sau 3 ÷ 5 lớp đất đắp thì các nêm gỗ này sẽ được tháo ra.
3.7.10. Thi công phần đỉnh tường
Thi công lắp tấm, lắp cốt và đắp đất ở phần đỉnh tường vẫn phải thực hiện như với các phần trên tường, chỉ khác là các tấm ở hàng trên cùng có thể có cạnh trên nghiêng theo độ dọc của tường (không kiểm tra độ nằm ngang của tấm như ở các tấm ở hàng dưới).
Sau khi thi công đắp đất hoàn thành, phải tháo tất cả các nêm và kẹp còn lại rồi lắp đặt (hoặc đổ bê tông tại chỗ) các khối gờ đỉnh tường theo thiết kế.