Quan hệ xã hội được hiểu là những quan hệ phát sinh giữa người với
người, khi họ tương tác với nhau trong quá trình chung sống. Các quan hệ xã hội vô cùng phong phú, đa dạng và không ngừng nảy sinh trong đời sống. Tuy nhiên, với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, nhà nước không thể để các quan hệ xã hội vận hành phát triển một cách tự nhiên mà phải đứng ra sử dụng các công cụ để sắp xếp chúng cho có trật tự, bảo vệ chúng và hướng chúng phát triển theo những định hướng nhất định để đạt được những mục đích đã đề ra. Chẳng hạn, muốn thiết lập trật tự an toàn giao thông đường bộ, Nhà nước ta phải ban hành luật giao thông đường bộ để hướng dẫn cách đi đường hay cách tham gia giao thông đường bộ cho tất cả mọi người. Do vậy, điều chỉnh quan hệ xã hội là sử dụng các công cụ tác động lên các quan hệ xã hội, làm cho chúng hình thành hoặc thay đổi và phát triển theo những mục đích, định hướng nhất định, nhằm thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự xã hội.
- Mục đích điều chỉnh quan hệ xã hội:
Mục đích của điều chỉnh quan hệ xã hội là làm cho các quan hệ xã hội hình thành hoặc thay đổi và phát triển theo những mục đích, định hướng nhất định nhằm thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự xã hội. Nói cụ thể, thông qua việc tác động lên các quan hệ xã hội hay tác động lên hành vi của các chủ thể tham gia, có thể điều chỉnh được quan hệ xã hội theo hai hướng:
+ Đối với các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, với tiến trình phát triển của xã hội, ví dụ như quan hệ mua bán, gửi giữ, quan hệ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… thì có thể khuyến khích các chủ thể tham gia, củng cố, bảo vệ chúng, tạo điều kiện cho chúng hình thành và phát triển hoặc thúc đẩy sự phát triển của chúng.
+ Đối với các quan hệ không phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội, không phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, ví dụ như quan hệ cạnh tranh không lành mạnh, trốn thuế, trốn đóng bảo hiểm xã hội… thì phải hạn chế, ngăn chặn sự hình thành, phát triển của chúng và từng bước loại trừ chúng ra
khỏi đời sống xã hội.
- Công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội:
Để điều chỉnh quan hệ xã hội, con người phải đặt ra các quy tắc hành vi hay quy phạm xã hội để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người khi tham gia vào quan hệ xã hội đó, vì thế, quy phạm xã hội trở thành công cụ để điều chỉnh quan hệ xã hội. Các quan hệ xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, do vậy, để điều chỉnh chúng một cách có hiệu quả, cần phải có nhiều công cụ khác nhau, bao gồm pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo, lệ làng, hương ước, luật tục, quy định của các tổ chức xã hội… Các công cụ đó vừa có sự độc lập, vừa có sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, hợp thành hệ thống công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Câu 48: Trình bày khái niệm bản chất pháp luật. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bản chất pháp luật.
1. Khái niệm bản chất pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lenin, pháp luật luôn gắn bó chặt chẽ với nhà nước, do đó xét về bản chất pháp luật vừa mang tính xã hội vừa mang tính giai cấp
2. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bản chất pháp luật
* Bản chất giai cấp của pháp luật
Bản chất của pháp luật cũng giống như nhà nước là tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không có tính giai cấp. Tính giai cấp của pháp luật:
– Phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, nội dung của ý chí đó đựơc
quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất, hợp pháp hoá ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước.
– Mục đích điều chỉnh của pháp luật. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị. Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp.
Ví dụ về bản chất giai cấp của pháp luật:
Pháp luật chủ nô là pháp luật của giai cấp chủ nô do giai cấp này đặt ra trước hết là vì lợi ích của nó. Pháp luật chủ nô quy định công khai quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của giai cấp nô lệ.
* Bản chất xã hội của pháp luật
– Các quy phạm pháp luật mặc dù do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tuy nhiên chỉ những quy phạm nào phù hợp với thực tiễn mới được thực tiễn giữ lại thông qua nhà nước, đó là những quy phạm “hợp lý”, “khách quan” được số đông trong xã hội chấp nhận, phù hợp với lợi ích của đa số trong xã hội.
– Quy phạm pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng chú ý vận động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan.
=>bản chất xã hội là cơ sở để xây dựng pháp luật phù hợp với chế độ CT KT XH. Xã hội phát triển thì vai trò năng lực của giai cấp càng được tăng cường củng cố. Do đó phát triển Xã hội cũng là mục tiêu của giai cấp thống trị.
Câu 49: Phân tích sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của pháp luật. Trình bày ý nghĩa của vấn đề này trong xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật ở nước ta hiện nay.
1. Sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của pháp luật
Tính giai cấp
- Pháp luật mang bản chất giai cấp rất sâu sắc vì pháp luật do nhà
nước của giai cấp thống trị ban hành.
- Mục đích của việc ban hành pháp luật của giai cấp thống trị là
nhằm ghi nhận và bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp này, thực hiện những mục tiêu chính trị mà giai cấp cầm quyền đặt ra. Tính giai cấp của pháp luật chính là nội dung ý chí của giai cấp thống trị được phản ánh trong pháp luật, áp đặt nó lên mọi tầng lớp khác trong XH
=>Pháp luật đã trở thành phương tiện đắc lực cho giai cấp cầm quyền trong việc quản lý xã hội và duy trì địa vị của mình.
Tính xã hội
- Pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban
hành nên nó còn mang tính chất xã hội. Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tùy thuộc vào hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn cụ thể), pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội
- Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự trong đó trước hết bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
- Tuy nhiên xã hội cần tồn tại và phát triển trong một trật tự nhất
định, nhà nước cũng như pháp luật phải đáp ứng những nhu cầu và lợi ích chung của xã hội, như trật tự công cộng, an sinh xã hội, phát triển y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường… phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định.
=>Pháp luật ra đời nhằm củng cố vị thế của giai cấp thống trị song muốn đảm bảo đc môi trường để duy trì vị thế ấy thì xã hội cũng phải phát triển do đó giai cấp thống trị ngày càng quan tâm đến xã hội hơn.
=> Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội. Hai thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với nhau. Xét theo quan điểm hệ thống thì không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp hoặc không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính xã hội.
Tuy nhiên ở mức độ nào đó thì hai tính chất này của pháp luật thể hiện rất khác nhau và thường biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm, đường lối chính sách và các trào lưu chính trị xã hội trong mỗi nước, hoặc ở các thời kỳ lịch sử khác nhau thì mức độ thể hiện cũng khác nhau.
LH: như trong pháp luật chủ nô thì tính giai cấp được thể hiện rõ nét, vượt trội hơn hẳn tính xã hội. Còn trong pháp luật XHCN thì tính giai cấp và tính xã hội tồn tại song song, bổ trợ cho nhau vì một mục đích cao đẹp là làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.