Giúp chúng ta nắm bắt được các tính chất, đặc điểm của pháp luật VN từ đó có những quyết định, chủ trương đúng đắn trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ PL.
=>NN CHXHCNVN lấy tính XH làm chủ đạo để xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ PL, trong đó lấy dân dân làm trọng tâm để xây dựng PL, mọi hoạt động tổ chức xây dựng PL của NN cần phải có sự tham gia của nhân dân, đảm bảo quyền lợi của dân. Đặc biệt hoạt động xây dựng, tổ chức và bảo vệ pháp luật chúng ta cần phải minh bạch, công tâm không bị ràng buộc bởi quyền lực do giai cấp thống trị tạo ra.
Câu 50: Phân tích tính chủ quan và tính khách quan của pháp luật. Theo anh/chị, làm thế nào để ngăn ngừa hiện tượng duy ý chí trong xây dựng pháp luật.
1. Tính chủ quan và tính khách quan của pháp luật
Tính chủ quan
Tính giai cấp Pháp luật là công cụ để NN quản lí các quan hệ xã hội. Do đó NN cũng là chủ thể tạo ra PL
Đó là ý chí chủ quan từ những nhà làm luật, bởi:
- Bất cứ đạo luật nào muốn thông qua đều phải qua tay NN
- NN - chủ thể làm luật cũng chịu sự tác động của XH và có khả
năng nhận thức được mức độ tác động của quá trình vận động ấy để
từ đó đưa ra quyết định về sự thay đổi hệ thống pháp luật
- Bản chất giai cấp với tư cách là giai cấp nắm quyền, họ sẽ xác
định rõ những điều gì sẽ xảy ra sau khi hệ thống pháp luật được thay đổi (khả năng dự báo), trong đó trước hết là xác định lợi ích cũng như các mối quan hệ xã hội mới được điều chỉnh có phù hợp với giai cấp thống trị hay không, sau đó là đến mức độ phù hợp của hệ thống ấy với hoàn cảnh xã hội hiện tại cũng như trong tương lai.
Tính khách quan
Tính xã hội Pháp luật là hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển khi xã hội đạt đến một trình độ phát triển nhất định. Từ đó, ta thấy ứng với một hoàn cảnh xã hội nhất định sẽ sản sinh ra một hệ thống pháp luật tương ứng. Sự ra đời của hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố xã hội, một khi xã hội có biến động về kinh tế, văn hóa, … thì cơ cấu các mối quan hệ xã hội cũng sẽ biến đổi theo (quan hệ cũ mất đi, quan hệ mới ra đời, …).
=>Sự thay đổi của các mối quan hệ này sẽ tác động đến nội dung, hình thức, cơ cấu của hệ thống pháp luật. Các quy phạm pháp luật lạc hậu, không phù hợp sẽ mất đi, thay vào đó là các quy phạm pháp luật mới, phù hợp sẽ ra đời, do vậy những cấu trúc cao hơn trong hệ thống cũng sẽ thay đổi sao cho phù hợp.
=>hệ thống pháp luật phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà làm luật và sự vận động khách quan của xã hội. Trong đó, sự vận động khách quan của xã hội đóng vai trò là nền tảng, ảnh hưởng đến sự thay đổi của hệ thống pháp luật và tác động đến cả ý chí của nhà làm luật.
VD: Hiến pháp 1980, trong Chương V Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
điều 60 và 61 quy định Nhà nước thực hiện chế độ học tập, chế độ khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền.→ Thoạt nhìn, chúng ta có thể thấy những quy định đó thể hiện tư tưởng tiến bộ, hướng đến lợi ích quần chúng; tuy nhiên, xét trong hoàn cảnh thực tiễn thì những quy định đó đã quá xa rời thực tiễn xã hội bấy giờ, chúng quá viễn tưởng và không phù hợp vì xã hội bấy giờ không đủ điều kiện để đáp ứng những tư tưởng tiến bộ đó. Do đó, những quy định này không thúc đẩy sự phát triển mà chỉ kìm hãm xã hội.
2. Theo anh/chị, làm thế nào để ngăn ngừa hiện tượng duy ý chí
trong xây dựng pháp luật.
Duy ý chí là tư duy hoặc hành động theo ý chủ quan của mình, không xét đến hoặc không tuân theo những quy luật khách quan chi phối hiện tượng, sự vật của tự nhiên và xã hội
Do đó đối với các nhà làm luật đặc biệt cần chú ý:
- Học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận thường xuyên, liên
tục và nghiêm túc hơn.
- Tổ chức trưng ý dân trước khi đưa ra các đạo luật mới.
- Đề cao ý thức dân chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền
dân chủ của quần chúng nhân dân. Trong quá trình xây dựng PL.
- Chống lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo
nguyện vọng, ý chí chủ quan.
Câu 51: Trình bày những hiểu biết của anh/chị về pháp luật dân chủ. Theo anh/chị, làm thế nào để pháp luật thực sự dân chủ.
1. Pháp luật dân chủ
Dân chủ là “hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.
Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế nhất định
quan niệm và quy chuẩn chung:
- Bầu cử tự do và công bằng,
- Quản lý nhà nước bằng ý chí của mọi công dân;
- Sự ý thức và khả năng thực tế của các công dân về quyền hạn và
nghĩa vụ của mình.
- Nhiệm vụ chính: bảo vệ quyền con người, tự do ngôn luận, tôn
giáo, quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng tham gia vào đầy đủ lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn hóa, giáo dục.
LH: Tuy nhiên, với mỗi khu vực, mỗi cộng đồng, quốc gia lại có những đặc thù về văn hóa, xã hội.
Chẳng hạn, sẽ không thích hợp nếu đem toàn bộ những thước đo của phương Tây để áp dụng vào phương Đông. Có thể, trong khi các nước phương Tây ra sức đấu tranh để “bảo vệ” những quyền lợi của dân chúng Trung Quốc thì nhiều khi người dân ở đó lại không cần thiết những quyền đó. Ví dụ về vấn đề quyền trẻ em: ở Hoa Kỳ, trẻ em có thể kiện bố mẹ ra tòa, nhưng ở Trung Quốc đó có thể là hành động phi đạo đức. Ở nhiều nước phương Tây, những biểu tượng của văn hóa phồn thực có thể được tôn vinh bằng phương thức văn minh nơi công cộng nhưng ở một số quốc gia khác có thể bị coi là xúc phạm cộng đồng. Vì vậy, cần phải nhìn nhận dân chủ như một khái niệm mang tính tương đối, có tính chất lịch sử và gắn liền với truyền thống văn hóa. Hiện nay, việc
thực hành dân chủ của các quốc gia châu Á đang đối diện với những thách thức chung, như:
– Trình độ dân trí: châu Á từng là nơi có nền văn minh phát triển cao trong phần lớn lịch sử nhân loại nhưng đã bị chậm lại trong vài thế kỷ gần đây. Trình độ học vấn của dân cư không thấp song trình độ giác ngộ về những quyền và trách nhiệm của số đông lại có vấn đề. Nguyên nhân cơ bản là do thiếu thông tin và nhất là bởi những khó khăn triền miên về kinh tế khiến con người luẩn quẩn qua nhiều thế hệ vì kiếm sống, khó có điều kiện để ý thức về quyền và trách nhiệm của mình.
– Truyền thống sở hữu và văn hóa gia trưởng: “Phương thức sản xuất châu Á”3 là điểm đặc thù. Ở các quốc gia nông nghiệp, truyền thống ruộng, đất thuộc về sở hữu của Nhà nước đã bảo đảm cho sự tồn tại lâu dài hoặc những tàn dư của chủ nghĩa phong kiến châu Á và phương thức quản lý tập quyền của tầng lớp lãnh đạo. Truyền thống gia trưởng ăn sâu vào tâm thức xã hội đến mức trở thành quy tắc ứng xử được chấp nhận như lẽ đương nhiên. Chính văn hóa gia trưởng hỗ trợ cho nguyên tắc tôn sùng, vâng lời người đứng đầu nhóm, tổ chức và cộng đồng. Vì thế, khác với phương Tây, cư dân phương Đông có thể chấp nhận tương đối dễ dàng và duy trì lâu dài các hình thức độc quyền.
Là một quốc gia khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cũng tồn tại những đặc điểm trên, đồng thời mang những dấu ấn đa chiều về dân chủ. Tuy nhiên, như đã phân tích, dù có những khác biệt về trình độ phát triển và văn hóa, vấn đề dân chủ ở Việt Nam có những đặc thù song vẫn phải hướng tới những tiêu chuẩn, giá trị phổ quát.
2. Làm thế nào để pháp luật thực sự dân chủ
- Người dân có thể tự do và thuận lợi đóng góp ý kiến vào việc xây
dựng pháp luật.
- Nâng cao mở rộng vai trò của nhân dân trong các hoạt hộng của
BMNN
- Ở một số quốc gia người ta coi hiến pháp là công cụ để đánh giá
một nền dân chủ.
Ở một quốc gia càng dân chủ, nhà nước càng áp dụng nhiều biện pháp để người dân có thể tự do và thuận lợi đóng góp ý kiến vào việc xây dựng hiến pháp, cũng như vào việc bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu ý dân về hiến pháp. Thêm vào đó, ở một quốc gia dân chủ, quá trình trưng cầu ý dân và xin ý kiến nhân dân được thực hiện một cách trân trọng, minh bạch, dưới sự giám sát chặt chẽ của báo chí và các tổ chức xã hội dân sự.
=>Vì vậy muốn có pháp luật thực sự dân chủ chính là bảo đảm và nâng cao vị thế của người dân, làm nền tảng và động lực phát triển trực tiếp của xã hội; là giải quyết đúng đắn vấn đề dân chủ đang được đặt ra: mở rộng dân chủ và phát huy cao độ quyền làm chủ trực tiếp của người dân từ cơ sở, đẩy mạnh chiều sâu dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Câu 52: Phân tích các yếu tố quy định bản chất, nội dung của pháp luật.
Bản chất, nội dung của PL được biểu hiện chủ yếu thông qua yếu tố giai cấp và yếu tố xã hội
Tính giai cấp của pháp luật
- phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội, nội
dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai
cấp thống trị.
- Ý chí của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong các văn bản
pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh
các quan hệ xã hội, pháp luật là yếu tố điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm định hướng cho các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị
Ví dụ: Pháp luật chủ nô là pháp luật của giai cấp chủ nô do giai cấp này đặt ra trước hết là vì lợi ích của nó. Pháp luật chủ nô quy định công khai quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của giai cấp nô lệ.
Bên cạnh tính giai cấp, không thể coi nhẹ giá trị xã hội to lớn của pháp luật vì trong cuộc sống hàng ngày các cá nhân và tổ chức có mối quan hệ với nhau rất đa dạng được thể hiện qua những hành vi xử sự khác nhau.
- Pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban
hành nên nó còn mang tính chất xã hội. Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tùy thuộc vào hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn cụ thể), pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội
- Xã hội thông qua nhà nước ghi nhận những cách xử sự hợp lý,
khách quan được số đông chấp nhận phù hợp với lợi ích của số đông trong xã hội, cách xử sự này được nhà nước thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật.
- Giá trị xã hội của pháp luật còn được thể hiện ở chỗ một quy phạm
pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để
nhận thức xã hội và điều chỉnh các quá trình xã hội.
Câu 53: Phân tích luận điểm: “Xã hội không thể một ngày thiếu pháp luật”.
Đặt ngược vấn đề nếu XH không có PL thì:
- XH rối loạn: con người không bị ràng buộc kiểm soát bởi các quy
định của PL
- Mất đi cơ sở chung đúng đắn, công bằng, khách quan để đánh giá
hành vi con người.
- Con người tự do thực hiện hành vi mà không sợ bị áp dụng chế tài
=> xâm hại lẫn nhau mà đối tượng xâm hại: sức khỏe. tình mạng quyền sở hữu.
Câu 54: Tại sao nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật?
Khi XH phát triển đến một giai đoạn nhất định, các phương tiện điều chỉnh xã hội như: đạo đức, tôn giáo, tín ngưỡng, tập quán, … dần có nhiều hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng. Từ đó PL ra đời đưa đời sống nd vào một trát tự nhất định, có kỷ cương
Trong điều kiện ngày nay, pháp luật trở thành công cụ hàng đầu, quan trọng và có hiệu quả nhất công cụ không thể thay thế để điều chỉnh các mối QHXH, quản lí XH. Ngoài ra pháp luật còn có những ưu thế vượt trội:
- Phạm vi tác động rộng lớn
- Được tổ chức thực hiện và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác
nhau, trong đó có biện pháp cưỡng chế nhà nước => bắt buộc đối
với mọi người.
- Hình thức xác định chặt chẽ nhất => cá nhân, tổ chức có thể nắm
bắt rõ ràng, đầy đủ nhất các hành vi được phép or not
- Dễ thích ứng với điều kiện thực tế của đs XH: ngược lại, đạo đức,
pttq có quá trình hình thành lâu đời mà không hề thay đổi do đó chúng không thể điều chỉnh kịp thời sự biến động của các QHXH
Chức năng:
- Pháp luật là vũ khí chính trị để nhân dân chống lại các lực lượng
thù địch, phản cách mạng, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng là công cụ để cải tạo xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội…định hướng cho xã hội phát triển, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
- Pháp luật là phương tiện mà thông qua đó Đảng cầm quyền lãnh
đạo nhà nước và xã hội. Dưới hình thức pháp luật, đường lối chính sách của Đảng sẽ được triển khai thực hiện nhanh, chính xác và có hiệu quả cao trên quy mô toàn xã hội
- Pháp luật là cơ sở pháp lý để bộ máy nhà nước tổ chức và hoạt
động. bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất, chính xác và tạo sức mạnh tổng hợp của bộ máy nhà nước.
- Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội.