* Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chứa đựng các quy tắc xử sự chung do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách (chủ thể) có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định.
Ví dụ, Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức quốc hội năm 2014… của nước ta là những văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau
- Là văn bản do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền ban hành pháp luật ban hành.
- Là văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật, tức là các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện.
- Được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống và được thực hiện
trong mọi trường hợp khi có các sự kiện pháp lý tương ứng với nó xảy ra cho đến khi nó hết hiệu lực.
- Tên gọi, nội dung, trình tự và thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật có thể được sử dụng để ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm nhiều loại theo quy định của mỗi nước, thông thường gồm hai loại chính là văn bản luật và văn bản dưới luật.
- Ví dụ về một văn bản pháp luật:
Một số văn bản như Hiến pháp 2013, Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật hình Sự 2015, Luật hôn nhân và gia đình 2014,…
- Ví dụ về văn bản dưới luật:
Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và các hình thức được pháp luật quy định bao gồm: pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, lệnh, quyết định, thông tư.
Ví dụ
+ Nghị định 46/2016/ND - CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
+ Quyết định số 751/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc điều chỉnh mức cho vay đối với học sinh, sinh viên
+ Thông tư 01/2018/TT - BTC về quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm trật tự an toàn giao thông do Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành.
+ Pháp lệnh số 10/2014/UBTVQH13: pháp lệnh Cảnh sát môi trường.
* Có 3 loại nguồn của pháp luật: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật.
- Khái niệm quy phạm pháp luật: là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị.
- Khái niệm tập quán pháp: là hình thức của pháp luật tồn tại dưới dạng những phong tục, tập quán đã được lưu truyền trong đời sống xã hội, được nhà nước thừa nhận thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc đối với xã hội.
- Khái niệm tiền lệ pháp: là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các phán quyết của các chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể để được nhà nước thừa nhận và làm khuôn mẫu cho việc giải quyết các vụ việc tương tự về sau.
1. Ưu điểm so với tập quán pháp
Tập quán pháp là hình thức xuất hiện sớm nhất, có nguồn gốc trực tiếp từ chính cuộc sống nên gần gũi với các đối tượng điều chỉnh hàng ngày, dễ tạo ra thói quen tuân thủ pháp luật. nhưng hình thành một cách tự phát nên thiếu tính khoa học, lại hình thành chậm và có tính bảo thủ ít biến đổi. Bên cạnh đó, nó mang tính cục bộ nên tính quy phạm phổ biến bị hạn chế và vì có hình thức truyền miệng nên thiếu thống nhất; trong khi đó văn bản quy phạm pháp luật được hình thành từ những nhà lập pháp có chuyên môn, trình độ và phải qua nhiều khâu trình quản lý, kiểm định khắt khe và văn bản quy phạm pháp luật rất dễ kiểm soát, thuận lợi khi ban hành hoặc sửa đổi lại mang tính pháp lý cao.
2. Ưu điểm so với tiền lệ pháp
Tiền lệ pháp hình thành nhanh, thủ tục gọn nên điều chỉnh kịp thời những quan hệ xã hội phát sinh mà nhà nước chưa kịp ban hành các quy phạm mới để điều chỉnh, nhưng tính chất pháp lý không cao, làm hạn chế tính linh hoạt của các chủ thể áp dụng, có thể suy diễn làm cho các tình tiết của phán quyết mẫu không còn đúng như ý nghĩa ban đầu.
Trong khi việc hình thành, ban bố ra các văn bản quy phạm pháp luật, các nhà lập pháp đã cố gắng cụ thể hóa, ra đa dạng hóa các tình huống, trường hợp có thể xảy ra trong thực tế để những cá nhân, đoàn thể khi tham gia vào những quan hệ pháp luật hay những cá nhân, đoàn thể có thẩm quyền khi tham gia
kiểm soát hoặc xử phạt có thể áp dụng một cách linh hoạt, chính xác. không chỉ vậy, văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành hay sửa đổi đều có tính pháp lý cao.
57. Phân tích khái niệm tập quán pháp. Trình bày những ưu điểm, hạn chế của tập quán pháp. Cho ví dụ minh hoạ.
Tập quán pháp là những tập quán của cộng đồng phù hợp với ý chí của nhà nước, được nhà nước thừa nhận, nâng lên thành pháp luật.
Ví dụ, tập quán pháp ăn Tết cổ truyền, phong tục Giỗ Tổ Hùng Vương, tập quán xác định họ, dân tộc cho con… ở nước ta đã trở thành tập quán pháp.
Tập quán pháp vừa là nguồn, đồng thời cũng là hình thức thể hiện, một dạng tồn tại của pháp luật trên thực tế. Ở hình thức này, pháp luật tồn tại dưới dạng thói quen ứng xử của cộng đồng. Một tập quán pháp khi chưa được nhà nước thừa nhận thì chỉ đảm bảo thực hiện bằng thói quen, bằng dư luận xã hội, nhưng khi được nhà nước thừa nhận là tập quán pháp thì nó sẽ được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp của nhà nước nên tác dụng và vai trò thực tế của nó được phát huy.
Việc nhà nước thừa nhận thành tập quán pháp có ý nghĩa quan trọng đối với nhà nước và xã hội. Đối với nhà nước, tập quán pháp đóng vai trò quan trọng tạo nên hệ thống pháp luật của một quốc gia. Đối với xã hội, tập quán pháp thể hiện sự chấp nhận của nhà nước đối với một thói quen ứng xử của cộng đồng, đó chính là sự thống nhất giữa ý chí nhà nước với ý chí cộng đồng.
Nhà nước thừa nhận tập quán thành tập quán pháp bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể liệt kê danh mục cá tập quán được nhà nước thừa nhận, viện dẫn các tập quán pháp trong văn, áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc phát sinh trong thực tiễn… Tập quán pháp có thể được tạo ra từ hoạt động của cơ
quan lập pháp, cũng có thể được tạo ra từ hoạt động của các cơ quan tư pháp khi áp dụng tập quán để giải quyết một vụ việc cụ thể. Song, nhà nước thường chỉ thừa nhận những tập quán không trái với đạo đức xã hội và trật tự công cộng.
Ưu điểm: Tập quán pháp là loại nguồn pháp luật được sử dụng sớm nhất, tồn tại một các khá phổ biến trong thời kỳ chưa có pháp luật thành văn nên nó gần gũi với các đối tượng điều chỉnh hàng ngày, dễ tạo ra thói quen tuân thủ pháp luật.
Tuy nhiên, tập quán pháp có hạn chế là không xác định về mặt hình thức, tản mạn, thiếu thống nhất.. nên cùng với sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội, văn bản quy phạm pháp luật ngày càng chiếm ưu thế thi tâp quán pháp ngày càng bị thu hẹp phạm vi sử dụng. Trong điều kiện hiện nay, tập quán đóng vai trò là nguồn bổ sung cho các văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế cho thấy, trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, với những lý do chủ quan và khách quan là cho văn bản quy phạm pháp luật có những hạn chế nhất định. Trong điều kiện đó, tập quán của địa phương là nguồn bổ sung quan trọng cho những khoảng trống rỗng các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp luật của các quốc gia thường có những quy định cụ thể về thứ tự áp dụng đối với tập quán pháp.
Ví dụ. Một tập quán về chuyển giao quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng tài sản.
Đồng bào dân tộc Mông (Lai Châu) có phong tục mượn gia súc như trâu, bò để canh tác. Mỗi khi mượn trâu, bò, người mượn phải mang một chai rượu ngô hoặc rượu gạo và một chút thức ăn thường ngày đến để cùng uống rượu với chủ sở hữu gia súc với ý nghĩa là hàm ơn và là một nghi thức của tập quán.
Ông A nguyên là chủ sở hữu của một con trâu đực đã yêu cầu ông B đang chiếm hữu con trâu đó có nghĩa vụ giao trả ông A con trâu đã mượn Ông B không đáp ứng yêu cầu của ông A với lý do là ông A đã bán con trâu đó cho ông 12 tháng rồi Tuy nhiên không có một bằng chứng nào về việc ông A và ông B đã giao kết hợp đồng mua bán trâu.
tranh chấp này không thể giải quyết bằng pháp luật vì không có bất kỳ một căn cứ nào để xác định là ông A đã bán trâu cho ông B nhưng nếu dựa vào tập quán thì tranh chấp này sẽ được giải quyết không mấy khó khăn.
theo tập quán thì ông B không có nghĩa vụ phải trả lại trâu cho ông A vì ông B không phải thực hiện ý thức là mang rượu và thức ăn đến nhà ông A để cùng uống và mượn trâu cho nên việc ông B mượn châu của ông A là không có mà sự thật là ông B đã mua trâu của ông a hơn nữa đồng bào dân tộc H'Mông không có Lệ mượn Châu trong thời hạn dài như vậy mà nếu không thỏa thuận về thời hạn mượn thì bên mượn Châu có nghĩa vụ trả lại Châu sau khi mục đích mượn đã đạt được là cái ruộng xong nếu ông a cho ông B mượn Châu thì ông A không thể không yêu cầu ông B trả lại Châu sau khi đã cài xong nương rẫy Không thể để cho ông B sử dụng sức kéo của trâu Lâu như vậy và thời vụ cũng đã qua đi rồi.
áp dụng tập quán thì rõ ràng ông B không mượn châu của ông a vì không có việc ông bên mang rượu và đồ ăn đến nhà ông A để uống và mượn Châu sự kiện này chứng tỏ rằng ông B đã mua con trâu của ông A và ông B không có nghĩa vụ trả lại Châu cho ông A vì ông B đã là chủ sở hữu của con trâu mua được từ ông a cách thời điểm tranh chấp 12 tháng.
58. Phân tích khái niệm tiền lệ pháp. Trình bày những ưu điểm, hạn chế của tiền lệ pháp. Cho ví dụ minh hoạ.
Tiền lệ pháp là những bản án, quyết định của chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể, được nhà nước thừa nhận có chứa đựng khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc khác tương tự.
Tiền lệ pháp có thể được thể hiện trong các bản án, quyết định hành chính, tư pháp. Song các quốc gia trên thế giới chỉ thừa nhận tiền lệ pháp do tòa án tạo ra, vì vậy ngày nay tiền lệ pháp còn gọi là án lệ. Ví dụ, các án lệ được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao của Việt Nam công bố.
Đặc điểm:
-Thứ nhất, án lệ có mối quan hệ mật thiết với thẩm phán vì án lệ do thẩm phán sáng tạo ra và để giải quyết các cụ việc cụ thể.
-Thứ hai, án lệ phải có tính nhắc lại, điều này thể hiện ở việc khi một bản án được công nhận là án lệ thi nó sẽ được lấy là khuôn mãu cho các vụ việc có tính chất tương tự và sẽ còn được sử dụng nhiều lần nữa. Ví dụ như án lệ “con ốc sên Paisley” ở trên có thể được áp dụng với các trường hợp vật thể lạ trong chai sữa hoặc nước ngọt, những sự việc này thì không chỉ năm 1932 mới có mà hiện nay vẫn xảy ra vì thế mà án lệ đó có từ năm 1932 nhưng vẫn co giá trị cho đến nay và sẽ còn tồn tại trong một thời gian dài nữa. Nó được sử dụng không chỉ trong phạm vi các quốc gia thuộc khối thịnh vượng mà còn được công nhận tại một số nước khác có sử dụng án lệ. Điều đó thể hiện tính nhắc lại của án lệ này.
-Thứ ba, án lệ có tính chất bắt buộc, có nghĩa là nếu một bản án được đem ra sử dụng cho một vụ việc có tính chất tương tự nhưng chỉ để tham khảo thì không được coi là một án lệ mà bản án đó phải là một khuôn mẫu buộc các thẩm phán phải áp dụng đối với các vụ án tương tự sau này. Sự bắt buộc này cũng giống việc tại Việt Nam các thẩm phán buộc phải dẫn ra các quy phạm pháp luật thành văn để xét xử
Ví dụ: Về án lệ tạo ra quy phạm pháp luật
Bộ luật Dân sự (BLDS) nước ta quy định nghĩa vụ cấp dưỡng với người thân của người có tính mạng bị xâm phạm là cho đến khi chết nếu người được hưởng cấp dưỡng là những người đã thành niên và cho đến khi đủ 18 tuổi nếu người được hưởng cấp dưỡng là người chưa thành niên hay đã thành thai. Tuy nhiên, BLDS lại không cho biết nghĩa vụ này bắt đầu vào thời điểm nào nên các tòa rất lúng túng. Sau đó, một quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao phân tích: Theo tinh thần quy định tại điều 61 BLDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2005,NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì trong trường hợp cụ thể này, thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng phải được tính từ ngày người bị hại chết.
Dù không nói ra nhưng đây được coi là hướng dẫn để các tòa án áp dụng khi xét xử và ở góc độ khoa học, rõ ràng nó như một án lệ.
Ưu điểm: hình thành nhanh, thủ tục gọn => điều chỉnh kịp thời những QHXH phát sinh mà nhà nước chưa kịp ban hành các quy phạm mới để điều chỉnh.
Nhược điểm: tính chất pháp lý không cao, làm hạn chế tính linh hoạt của các chủ thể áp dụng, có thể suy diễn làm cho các tình tiết của phán quyết mẫu không còn đúng như ý nghĩa ban đầu.