Cấu trúc của quy phạm pháp luật bao gồm 3 bộ phận: giả định, quy định và chế tài. Tuy nhiên, không phải mọi quy phạm pháp luật luôn có đủ 3 bộ phận
này.
- Giả định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật đó. Trong giả định của quy phạm pháp luật cũng nêu lên chủ thể nào ở vào những điều kiện, hoàn cảnh đó.
Ví dụ: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.” (khoản 1, Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017). Bộ phận giả định của quy phạm là “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân”.
Ý nghĩa: mặc dù không phải là bộ phận quan trọng nhất của một quy phạm pháp luật, nhưng phần giả định cũng đóng vai trò rất quan trọng bởi lẽ đây là cơ sở, tiền đề cho việc đề ra các quy định của pháp luật một cách dễ dàng, dễ hiểu và dễ vận dụng.
- Quy định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu cách xử sự mà tổ chức hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật được phép hoặc buộc phải thực hiện. Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?
Ví dụ: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” (Điều 33 Hiến pháp 2013). Bộ phận quy định của quy phạm là “có quyền tự do kinh doanh” (được làm gì).
Mệnh lệnh được nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật có thể dứt khoát (chỉ nêu một cách xử sự và các chủ thể buộc phải xử sự theo mà không có sự lựa chọn). Ví dụ: Khoản 1, Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.”
Hoặc không dứt khoát (nêu ra 2 hoặc nhiều cách xử sự và cho phép các tổ chức hoặc cá nhân có thể lực chọn cho mình cách xử sự thích hợp từ những cách xử sự đã nêu). Ví dụ: Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn; Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài.”
Ý nghĩa: đóng vai trò quan trọng nhất, giúp nhà nước điều chỉnh hành vi của công dân thông qua các quy định. Đây còn là cơ sở để xem xét một chủ thể đã có hành vi vi phạm PL hay chưa?
- Chế tài: là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật có thể sẽ được áp dụng với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.
Ví dụ: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.” (khoản 1, Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ
sung 2017). Bộ phận chế tài của quy phạm là “phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Ý nghĩa: giúp nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích của các chủ thể bị xâm hại bởi hành vi trái PL, mặt khác còn mang tính răn đe, giáo dục…
62, Cách trình bày quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật.
Trong các loại nguồn pháp luật, văn bản quy phạm được thể hiện rõ nhất. Dưới đây là các cách trình bày quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật.
1, Cách trình bày trực tiếp trong điều của văn bản quy phạm pháp luật:
Một quy phạm pháp luật có thể được trình bày trong một điều luật một cách trực tiếp. Đây là cách trình bày phổ biến của các quy phạm pháp luật.
Cũng có thể trình bày nhiều quy phạm pháp luật trong cùng một điều luật. Cách thức này thường được dùng để trình bày các qppl có nội dung tương ứng như nhau, cùng liên quan đến một vấn đề, do vậy, việc trình bày như thế sẽ tiện lợi hơn cho việc so sánh và nhận thức các nội dung của quy phạm đó.
Trật tự trình bày các bộ phận của quy phạm pháp luật trong điều của văn bản quy phạm pháp luật có thể thay đổi chứ không nhất thiết phải trình bày đầu tiên là giả định rồi sau mới tới quy định hoặc chế tài… của quy phạm.
2, Trình bày theo cách viện dẫn đến điều cụ thể nào đó của văn bản qppl :
Với cách trình bày này có thể trình bày một qppl trong nhiều điều luật khác nhau, nghĩa là, một bộ phận nào đó của qppl có thể được viện dẫn đến các điều, khoản cụ thể trong cùng văn bản qppl đó hoặc trong văn bản qppl khác.
3, Trình bày theo cách viện dẫn không cụ thể:
Cũng có trường hợp qppl không được trình bày đầy đủ, một bộ phần nào đó của qppl được viện dẫn đến các nguồn khác nhưng không nêu cụ thể điều của văn bản qppl nào.
Mặc dù các qppl được trình bày rất đa dạng trong các loại nguồn pháp luật khác nhau nhưng nếu chúng đều thể hiện một mô hình chung là: “nếu…thì…còn nếu khác thì…”. Việc tiếp cận qppl theo mô hình này sẽ giúp cho việc nhận thức và thực hiện các qppl chính xác và đầy đủ.
Phân biệt qppl và điều luật:
Qppl là cái bên trong, là nội dung. Còn điều luật là cái bên ngoài, là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của qppl. Do đó, chúng ta không thể phân biệt qppl và điều luật dựa trên các chỉ tiêu như: nội dung, thẩm quyền ban hành, loại văn bản chứa đựng, trình tự,… mà chỉ có thể dựa vào hình thức thể hiện ra bên ngoài để phân biệt chúng.
Điều luật khác qppl ở chỗ, nếu điều luật chỉ là những con số cụ thể hoặc những kí tự mang tính định lượng để đánh dấu, sắp xếp các nội dung được chứa đựng trong điều luật đó thì qppl là những dòng thong tin mang tính định tính, chứa đựng những lượng thông tin nhất định. Tức là điều luật chỉ là hình thức, là những con số hoặc chữ cái nhằm mục đích đánh dấu trình tự sắp xếp. Còn qppl là cái được chứa đựng bên trong mang những nội dung, những thông tin cụ thể.
63, Phân tích bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật. Tại sao trên thực tế, bộ phận chế tài thường không cố định
-Khái niệm: chế tài là bộ phận của qppl quy định các biện pháp cưỡng chế mang tính chất trừng phạt mà nhà nước dự kiến có thể áp dụng đối với các chủ thể vppl, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những mệnh lệnh đã được nêu trong bộ phận của định của qppl.
-Đặc điểm:
Chế tài là một trong những biện pháp quan trọng để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Do vậy, nếu các biện pháp trong chế tài được quy định không phù hợp thì tác dụng răn đe, trừng phạt của chúng sẽ kém hiệu quả.
Bộ phận chế tài của qppl thường trả lời cho câu hỏi: các chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế nào đối với các chủ thể đã
vppl, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những mệnh lệnh được nêu trong bộ phận quy định của qppl. Còn đối với các chủ thể được nêu ở bộ phận giả định của qppl thì được gián tiếp thông báo hoặc cảnh báo cho họ biết là nếu như họ ở vào tình huống đã nêu ở bộ phận giả định của qppl thì họ phải chịu những hậu quả bất lợi, bị trừng phạt bằng những biện pháp gì.
Các biện pháp cưỡng chế mà nhà nước nêu ra trong bộ phận chế tài của qqpl để áp dụng rất đa dạng, đó có thể là các biện pháp như phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù,… thông thường, chế tài các qppl được chia thành các nhóm như: hình sự, hành chính, kỳ luật, dân sự,…
Bộ phận chế tài có thể cố định hoặc không cố định.
+ Chế tài cố định là chế tài trong đó nêu chính xác, cụ thể biện pháp tác động sẽ áp dụng đối với chủ thể vppl
+Chế tài không cố định là chế tài nêu lên nhiều biện pháp tác động. Việc áp dụng biện pháp nào, mức phạt bao nhiêu là do chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm lựa chọn cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.
Trên thực tế, bộ phận chế tài thường không cố định vì:
Bộ phận chế tài không cố định là không cố định ở khung xử phạt, nghĩa là mức phạt không cố định một mức cụ thể. Điều này xuất phát từ việc, mặc dù cùng một hành vi, một loại khách thể bị xâm hại hay cũng làm trái một quy định, một điều luật nhưng do sự khác nhau về rất nhiều đặc điểm như: mức độ nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, động cơ, mục đích, ý thức thực hiện hành vi, nhân thân,… mà các chủ thể sẽ chịu mức phạt khác nhau.
64, Phân tích cơ cấu của quy phạm pháp luật. Việc thể hiện nội dung từng bộ phận của quy phạm pháp luật có ảnh hưởng gì đến việc thực hiện pháp luật trên thực tế.
Việc thể hiện nội dung từng bộ phận của qppl giúp cho việc thực hiện pháp luật trên thực tế diễn ra một cách dễ dàng, đúng đắn, chính xác và đạt hiệu quả. Bởi vì chủ thể sẽ dễ dàng nhận thức được tình huống pháp luật dự liệu là gì, pháp luật quy định như thể nào và cách thức xử lý ra sao,… khi những vấn đề này được thể hiện rõ ràng trong điều luật. Mặt khác, đối với chủ thể chịu sự điều chỉnh cũng dễ dàng thông hiểu và chấp hành, tuân theo pháp luật một cách tự giác, không có sự chống đối.
65, Phân tích khái niệm hệ thống pháp luật. Trình bày ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật.
-Phân tích khái niệm hệ thống pháp luật:
Khái niệm: Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể các hiện tượng pháp luật (mà cốt lõi là các qppl, được thể hiện trong các nguồn pháp luật) có sự lien kết, ràng buộc chặt chẽ, thống nhất với nhau, luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau để thực hiện việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội.
Đặc điểm:
+ Được hình thành một cách khách quan, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, các thành tố của hệ thống pháp luật là do chính các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh xác lập, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể ban hành pháp luật.
+Giữa các thành tố của hệ thống pháp luật luôn có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất và phù hợp với nhau. Sự thống nhất nội tại là một nguyên tắc rất quan trọng của hệ thống pháp luật, thể hiện ở sự gắn bó hữu cơ khăng khít với nhau giữa các quy định pháp luật, các nguồn pháp luật với nhau và với các thành tố khác cả hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật vừa đa dạng, vừa thống nhất trong một chỉnh thể. Giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật không chỉ có sự gắn bó, liên hệ chặt chẽ mà còn tác động qua lại lẫn nhau, phối hợp, hỗ trợ cho nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
+Hệ thống pháp luật luôn là một tập hợp động, tính ổn định chỉ là tương đối, luôn vận động thay đổi, phát triển từ thời kỳ này sang thời kỳ khác cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật và tiến trình phát triển của đất nước. Thông thường, các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… luôn luôn thay đổi, đòi hỏi các quốc gia phải thường xuyên hoàn thiện hệ thống pháp luật để tránh hiện tượng chồng chéo, phát hiện những thiếu sót của các hiện tượng pháp luật, kịp thời loại bỏ những quy định, những hiện tượng không còn phù hợp, bổ sung, tạo lập những quy định phù hợp, không ngừng nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội.
-Ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật:
Đối với xây dựng pháp luật:
+ Khi xây dựng pháp luật phải luôn ý thức được rằng các quy định pháp luật, các nguồn pháp luật luôn có mối liên hệ chặt chẽ và luôn thống nhất với nhau.
Do vậy, các cá nhân tổ chức có thẩm quyền khi ban hành bất kì một quy định pháp luật nào phải chú ý đến tính hệ thống của nó. Nếu quy định hay nguồn pháp luật mới ban hành mâu thuẫn với các quy định hay nguồn pháp luật khác thì phải sửa đổi, hủy bỏ để đảm bảo sự vận hành thống nhất của hệ thống pháp luật.
+Trong hoạt động xây dựng pháp luật thì nguồn pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp không được ban hành trái với nguồn pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn và tất cả phải phù hợp với hiến pháp – luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất.
+Việc ban hành quy định hay nguồn pháp luật phải chú ý đến khả năng thi hành nó trên thực tế, nghĩa là, nó phải phù hợp với các thiết chế và cơ chế thực thi pháp luật hiện hành.
Đối với hoạt động thực hiện pháp luật:
+Xuất phát từ tính chất hệ thống của pháp luật đòi hỏi tất cả các quy định của pháp luật hiện hành đều được thực hiện nghiêm minh, các hiện tượng pháp luật đều được tối ưu. Việc thực hiện hay không thực hiện một quy định pháp luật nào đó luôn có ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện các quy định pháp luật khác, nghĩa là, việc thực hiện các quy định pháp luật này sẽ là tiền đề, điều kiện thực hiện các quy định pháp luật khác và ngược lại.
+Khi tiến hành thực hiện, áp dụng pháp luật phải ưu tiên các quy định của hiến pháp, của các nguồn pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Đối với việc tổ chức các thiết chế bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh:
+Để hệ thống pháp luật phát huy được vai trò, tác dụng trong đời sống xã hội thì cần phải có các thiết chế được tổ chức và hoạt động có hiệu qủa nhằm tổ chức và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Với mỗi hệ thống pháp luật, các thiết chế đảm bảo việc thực hiện pháp luật được tổ chức khác nhau, có cơ chế hoạt động khác nhau.
Đối với hoạt động đào tạo luật và nghề luật
+Hệ thống pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật và nghề luật. Ở hầu hết các quốc gia, các khoa học pháp lý chuyên ngành thường hình thành trên cơ sở việc phân định các ngành luật, chế định pháp luật. Có thể nói, hệ thống pháp luật là đối tượng nghiên cứu của hệ thống khoa học pháp lý.
66, Phân tích các yếu tố cấu thành của hệ thống quy phạm pháp luật. Trình bày căn cứ để phân định các ngành luật.
Hệ thống quy phạm pháp luật gồm các thành tố cơ bản là: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật.
- Quy phạm pháp luật: là các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Quy phạm pháp luật là một hệ thống nhỏ, được cấu tạo từ các bộ phận