TÌNH HÌNH NÔNG THÔN LẠNG SƠN SAU 05 NĂM (2010-2015) VÀ GIAI ĐOẠN (2016 – 2018) TRIỂN KHAI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Một phần của tài liệu THƯ VIỆN PHÁP LUẬT (Trang 23 - 27)

1. Tổng hợp những vấn đề cơ bản về khu vực nông thôn Lạng Sơn

Thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt khoảng 20 triệu đồng/người/năm

(bình quân đầu người của tỉnh đạt 38,36 triệu đồng/người/năm).

Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM tiếp tục được đẩy mạnh, đã hình thành một số hình thức tổ chức sản xuất mới, mô hình sản xuất hiệu quả, thu hút nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Sản xuất nông lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, cao hơn các năm 2016, 2017.

Bảng 1. Hiện trạng sản phẩm dự kiến phát triển sản phẩm OCOP TT Nhóm sản phẩm Số lượng Tỷ lệ (%) Ghi chú

Tổng số 149 100,00

1 Thực phẩm 102 68,46

2 Đồ uống 10 6,71

3 Thảo dược 12 8,05

4 Vải và may mặc - -

5 Lưu niệm - nội thất - trang trí 18 12,08

6 Dịch vụ du lịch nông thôn 7 4,70

(Nguồn: Số liệu tính toán điều tra, khảo sát)

Tổng doanh thu sản phẩm (sản phẩm lợi thế phát triển OCOP) trong 4 năm qua: Năm 2015 đạt 2.630.640 triệu đồng; năm 2016 đạt 2.841.762 triệu đồng/năm;

năm 2017 đạt 3.232.669 triệu đồng, năm 2018 ước đạt 3.512.351 triệu đồng.

(Thực trạng sản xuất sản phẩm của tỉnh - chi tiết tại phụ biểu 01)

Ngoài các sản phẩm hiện có, xác định 22 sản phẩm mới có triển vọng phát triển sản OCOP (trong đó có nhóm thực phẩm có 02 sản phẩm, thảo dược 01 sản phẩm và 19 sản phẩm dịch vụ du lịch nông thôn).

Đánh giá chung:

- Về sản xuất: (1) Phần lớn phát triển theo dạng kinh tế hộ hoặc nhóm hộ, sản xuất theo phong trào hoặc tự phát, ít hiểu biết về thị trường, đặc biệt chưa chú trọng khai thác các lợi thế ở vùng nông thôn. (2) Khả năng sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ kỹ thuật còn hạn chế (công nghệ, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất còn thô sơ, đơn giản....), dẫn đến sản phẩm có chất lượng thấp, cạnh tranh thị trường yếu, giá thành thấp....(3) Việc phát triển, sản xuất các sản phẩm hiện nay vẫn còn mang tính thụ động theo thị trường, quy mô nhỏ, tính bền vững không cao, giá trị gia tăng thấp do chưa biết tận dụng triệt để nguồn nguyên liệu và phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị.

- Về sản phẩm: Hầu hết ở dạng vật phẩm có sẵn hoặc sản phẩm được làm với công nghệ thô sơ, đơn giản, hoàn thiện sản phẩm (mẫu mã, bao bì, nhãn mác,...) chưa đi đôi với chất lượng và quản lý chất lượng nên khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường còn yếu.

- Công tác xúc tiến thương mại: Ngành nông nghiệp và PTNT, Công Thương đã kết nối, giới thiệu tiêu thụ sản phẩm như Na, Quýt, Khoai mon và các loại rau đặc sản của tỉnh đến với hệ thống các siêu thị lớn tại Hà Nội; hỗ trợ cho các HTX giới thiệu và bán sản phẩm nông nghiệp sạch, an toàn tại chợ trung tâm

của tỉnh; chỉ đạo địa phương đã tổ chức các Ngày hội, Hội thi quảng bá các sản phẩm như: Ngày hội Na Chi Lăng, Hội thi Hồng Vành Khuyên (Văn Lãng), Hồng Bảo Lâm (Cao Lộc), Quýt vàng Bắc Sơn...

2. Kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 và giai đoạn 2016-2018

Qua 8 năm thực hiện Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới (Chương trình NTM) đã đạt được những kết quả quan trọng trong các lĩnh vực:

Số xã đạt chuẩn 48/207 xã và thành phố Lạng Sơn hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, bình quân 01 xã đạt 10,04 tiêu chí, không còn xã dưới 5 tiêu chí, cụ thể như sau: Số xã đạt 19 tiêu chí có 48/207 xã, chiếm 23,19%; số xã đạt 10-14 tiêu chí có 22/207 xã, chiếm 10,63%; số xã đạt từ 5-9 tiêu chí có 137/207 xã, chiếm 66,18%.

2.1. Giai đoạn 2011-2015

- Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất với 7,07%; ngành nông nghiệp tăng 1,43%.

- Giảm nghèo và an sinh xã hội: Kết quả tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 24,06% năm 2011 xuống còn 14,09% năm 2014, năm 2015 còn 11,9%. Toàn tỉnh có 5 huyện, thành phố tỷ lệ hộ nghèo giảm dưới 10%.

- Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đào tạo nghề cho 55.410 người (dạy nghề cho lao động nông thôn là 44.612 người) tăng tỷ lệ qua đào tạo theo từng năm (2011: 35% đến Năm 2015: 43,4%).

2.2. Giai đoạn 2016-2018

- Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM các cấp tập trung thực hiện có hiệu quả Chương trình số 22/CTr-UBND ngày 15/7/2016 của UBND tỉnh Lạng Sơn về Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

- Giảm nghèo và an sinh xã hội: Số hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm theo từng năm (năm 2016: 42.490 hộ, tỷ lệ 22,37%; năm 2017: 36.537 hộ tỷ lệ 19,07%;

năm 2018: 30.583 hộ tỷ lệ 15,83%).

- Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đào tạo nghề cho 33.132 người (dạy nghề cho lao động nông thôn là 25.047 người); tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 43,4% năm 2015 lên 50% năm 2018.

3. Yêu cầu nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Với tinh thần, chủ trương Quốc gia khởi nghiệp theo phát động của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, cần có sự tham gia khởi nghiệp của cả đội ngũ nông dân đông đảo hiện nay, nhưng cần tổ chức khoa học, bài bản. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ, dẫn dắt để người dân tự đứng trong tổ chức kinh tế của chính họ (là các doanh nghiệp, các hợp tác xã) để nông dân thực sự làm chủ, phát huy

tính chủ động, sáng tạo trong phát triển kinh tế từ những lợi thế của mỗi địa phương trong tỉnh.

Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020 đặt ra các mục tiêu tổng quát cần thực hiện:

- Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa) để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế nông thôn.

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

- Thông qua việc phát triển sản xuất tại khu vực nông thôn, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý (hạn chế dân di cư ra thành phố), bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của nông thôn Việt Nam.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy sự cần thiết phải có một hình thức tổ chức, một giải pháp giúp Lạng Sơn tận dụng được tối đa những lợi thế riêng, biến những giá trị tiềm năng trở thành lợi thế, một động lực tạo sự đột phá trong phát triển kinh tế khu vực nông thôn, miền núi. Đặc biệt trong bối cảnh thế giới bước vào cuộc cách mạng 4.0, đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội để Lạng Sơn chuyển mình, phá vỡ các rào cản về không gian, những giới hạn về địa lý, về trình độ để phát triển một cách hài hòa, bền vững, mang lại cuộc sống ấm no cho người dân.

Phần thứ hai

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ KHU VỰC NÔNG THÔN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC

VỀ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH MỖI XÃ MỘT SẢN PHẨM

Một phần của tài liệu THƯ VIỆN PHÁP LUẬT (Trang 23 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(58 trang)
w