Cúc đặc trưng pháp lộ của doanh nghiệp

Một phần của tài liệu Giáo trình pháp luật kinh tế phần 1 (Trang 20 - 40)

Theo khái niệm tại Điều 4.1, Luật Doanh nghiệp 2005, có thể nhận thấy doanh

nghiệp có 5 đặc trưng pháp lý như sau;

“Một là, doanh nghiệp phải có tên riêng. Tên riêng là dẫu hiệu đầu tiên để xác

định tư cách chủ thể độc lập của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh.

doanh. Với tên riêng của mình, doanh nghiệp cỏ thể tự nhân danh mình tham gia

vào các giao dịch một cách độc lập. Mặt khác, tên doanh nghiệp còn là cơ sở để

“Nhà nước thực hiện quản lý đối với doanh nghiệp và cũng là cơ sở để phân biệt

sắc doanh nghiệp với nhau. Pháp luật có một số quy định về tên doanh nghiệp

mà những người thành lập doanh nghiệp phải tuân thủ khi đặt tên cho doanh.

nghiệp của mình,

Hai là, doamh nghiệp phải có tài sản. Mọi doanh nghiệp được thành lập đều

để thực hiện hoạt động kính doanh, mà điều kiện để thực hiện hoạt động kinh cdoanh là phải có tải sản, nếu không có tải sàn thì không thể tiền hành kính doanh

20

bi theo định nghĩa kinh doanh là hoạt động dầu tư tài sản nhằm thụ lợi về tải

sản. Có thể nói, tài sản vừa là điều kiện hoạt dộng, vừa là mục đích hoạt động.

của doanh nghiệp,

.Ba là, doanh nghiệp phải có trụ sở giao dich ỗn định. Trụ sở giao dịch ỗn định ở đây là trụ sở chính, và bất kỳ doanh nghiệp nào thành lập ở Việt Nam đều phải có trụ sở chính trên lãnh thỗ Việt Nam. Trụ sở chỉnh tại Việt Nam là yếu tổ xác định quốc tịch Việt Nam của doanh nghiệp. Khi đăng kỹ thành lập doanh nghiệp, những người thành lập doanh nghiệp phải đăng ký địa chỉ của trụ sở chính theo đăng quy định của pháp lật.

“Bản là. doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thành lập theo quy định pháp Juda Thủ tục thành lập doanh nghiệp gồm hai bước cơ bản là đăng ký doanh

nghiệp và công bổ nội dung đăng kỷ doanh nghiệp. Thủ tục đăng ký doanh

nghiệp là nhằm đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cắp Giấy chứng nhận đăng kỹ doanh nghiệp (có trường hợp văn bản này được gọi với tên khác nhưng phải được quy định là có giá trị đăng ký kỉnh doanh), đây chính là điều kiện để doanh nghiệp được coi là "được thành lập hợp pháp”. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thể hiện những thông tỉn về tư cách chủ thể của doanh nghiệp, pham vi, ĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, căn cử theo những thông tin trong hồ sơ đăng kỷ doanh nghiệp đo người thành lập doanh nghiệp khai và tự chịu trách nhiệm. Tôm lại, đăng ký doanh nghiệp là cơ sở cho hoạt động của

mỗi doanh nghiệp, đồng thời cũng là cơ sở cho việc quản lý nhà nước đổi với

dđoanh nghiệp.

"Năm là. doanh nghiệp phải thư hiện hoạt động Kinh doanh. Nội cách khác, cdoanh nghiệp luôn luôn là một tổ chức kính tế hoạt động vì mục đích lợi nhuận.

“Trong quá trình hoạt đông, doanh nghiệp có thể có những hoạt động khác nhằm

các mục tiêu xã hội khác như hoạt động từ thiện, tự nguyện, không nhằm tìm kiếm.

lợi nhuận, nhưng những hoạt động này không phải là mục tiêu, bản chất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không lấy kinh doanh là hoạt động cơ bản thỉ tất yêu không thể tổn tại và không có khả năng tổn tại

Một tổ chức có đủ năm đặc trưng pháp lý này được coi là doanh nghiệp,

ngược lại nếu thiếu một trong năm đặc trưng pháp lý này thì đó không thể là

dđoanh nghiệp.

1.3, Giới hạn trách nhiệm trong kinh doanh

Giới hạn trách nhiệm trong kinh doanh là phạm vi tai sin phải đưa ra để thanh toán cho các nghĩa vụ tài sản phát sính trong hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp, đặc biệt là khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Bàn về giới hạn

2

trách nhiệm trong kinh doanh là chủ yêu bàn về giới hạn rách nhiệm của người đầu tư vốn vào doanh nghiệp đối với những nghĩa vụ tải sản phát sính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Cé hai loại giới hạn trách nhiệm tong kinh doanh đổi với người đu tư là trách nhiệm vô hạn và trách nhiệm hữu hạn. Chú:

rách nhiệm võ hơn trong kinh doanh nghĩ là những nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm thanh toán những khoản nợ phát sinh trong kỉnh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư vốn bằng toàn bộ tài sân thuộc quyện sở hữu hợp pháp của mình, bao gốm những tải sản đăng ký đưa vào kinh doanh và cả những tải sản không trực tiếp đưa vào kinh doanh. Theo quy định hiện hành, chủ doanh nghiệp tr nhân và

thành viên hợp danh của công ty hợp danh là những người phải chịu trách nhiệm.

võ hạn, Chịu trách nhiệm hữa hợn nghĩa là nhà đầu tơ chỉ phẩi chịu trách nhiệm

thanh toán các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh của doanh nghiệp bằng số tài

sản mã họ đầu tơ vào doanh nghiệp. Hiện nay, loại trách nhiệm hữu han trong kinh oan được áp dụng đổi với các cổ đông của công ty cỗ phần, thành viên của công ty rách nhiệm hữu hạn và thành viên gộp vẫn cũn công ty hợp danh.

Cðn đối với các doanh nghiệp, về nguyên tắc các doanh nghiệp có tư cách phâp nhân thì phải chịu trách nhiệm về hoại động của mình bằng toàn bộ tải sản của chính doanh nghiệp, có nghĩa là doanh nghiệp phải chịu trích nhiệm vô hạn về

hoạt động của chính mình. Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp không.

có sự phân biệt giữa tư cách của chủ doanh nghiệp với doanh nghiệp, nói cách khác, doanh nghiệp tư nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân là một nên giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp tư nhân cũng chính là loại giới hạn trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân, nghĩa là doanh nghiệp tư nhân cũng có giới ạn trách nhiệm

là võ hạn. Tóm lại, khi bản về giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp đổi với các

tghĩa vụ trong kinh doanh của chính doanh nghiệp đó thì các doanh nghiệp luôn phải chịu trách nhiệm vô hạn

3. Các loại hình doanh nghiệp.

21. Cúc loại hình đoanh nghiệp theo hình thức pháp lý

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về hai loại hình doanh nghiệp cơ bản đó là công ty và doanh nghiệp tư nhân.

— Công rw là loi hình doanh nghiệp được hình thành bởi sự gốp vốn c một hoặc nhiều nhà đầu tư. 6 đây có sự phân định và tách biệttấi sin của công ty và tải sân của người đầu tơ, người đầu tư chỉ phái chịu trách nhiệm hữu han

đối với các nghĩa vụ tài sân của công ty trong phạm vi tài sản đã đầu tư, và do

đó rủi ro trong kinh doanh đã được hạn chế. Ngoài ra, sự góp vốn của nhiều.

"người đầu tư vào một sông ty có uu diém là tăng năng lực về vẫn của công ty,

2

và giữa những người đầu tư có sự chia sẽ rủi ro cũng như rằng buộc nhau để cùng kinh doanh có hiệu quả hơn.

“Các loại hình công ty hiện nay theo pháp luật Việt Nam bao gỗm các loại sau:

+ Công ty trích nhiệm hữu hạn: Công ty trách nhiệm hữu hạn lại được chia thành hai dạng co bản là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và (Công ty trích nhiệm hữu hạn một thành viên. Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lại có hai trường hợp là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thánh viên do một cá nhân là chủ sở bữu và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đo một tổ chức là chủ sở hữu;

+ Công ty cỗ phần;

+ Cong ty hop dani,

~ Doanh nghiệp nhân là loi hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, ở loại hình doanh nghiệp nảy không có sự tích biệt giữa tải sin của doanh nghiệp với tải sân của chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp không phái thực biện việc góp.

yến, vì thể chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ

tài sản của doanh nghiệp tư nhân bằng toản bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của.

minh, không phân biệt tài sản đã đầu tư vào doanh nghiệp hay tài sin để ngoài hoại động kinh doanh”

3⁄3. Các loại hình doanh nghiệp theo nguồn gốc tài sâm đấu tư vào doanh nghiệp

Việt phán lại doanh nghiệp teo ê chí này ti ời diệm hiện nay hông côn mang nhiều ý nghĩa thực tiễn. Vì hiện nay về nguyên tắc, mọi doanh nghiệp đều

phải thành lập, tổ chức, quản lý hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, nghĩa là phải được thành lập, tổ chức, quản lý hoạt động dưới một trong.

những loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005, dã cho doanh nghiệp đồ cô nguồn gốc tài sản đẫu tư từ bất kỳ nguồn nào, Các văn bán pháp luật quy định việc thành lập, tổ chức, quản lý hoạt động doanh nghiệp như: Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003, Lugt Diu tw nước ngoài tại Việt Nam hiệu lực và được thay thể bởi Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy vậy, ở đây chúng ta vẫn tim iễu về các loại hình doanh

nghiệp được phân loại theo tiêu chi này với ý nghĩa nghiên cứu, giúp người học

iểu rõ hơn sự phát tri, thay đối của chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp.

“Theo tiêu chí nguồn gốc tải sản đầu tư vào doanh nghiệp ở Việt Nam có bồn

loại hình doanh nghiệp là: doanh nghiệp ngoài nhà nước; doanh nghiệp nhà nước;

doanh nghiệp có vốn đầu tr nước ngoài và doanh nghiệp đoàn thể.

23

2.2.1. Doanh nghiệp ngoài nhà nước

Đây là những doanh nghiệp dược thành lập bởi người dầu tr là công dân, tổ

“hức Việt Nam thuộc thành phần kinh tế tư nhân, tư bản tư nhân. Loại doanh nghiệp này bắt đầu xuất hiện và phát triển ở Việt Nam từ năm 1990, với sự ra đời của Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm cúa 9 năm thực hiện hai đạo luật trên, Quốc hội đã bạn hành Luật Doanh nghiệp 1999 thay thé cho hai đạo luật trong việc điều chỉnh các doanh

nghiệp này. Và hiện nay, Luật Doanh nghiệp 1999 đã hết hiệu lực và được thay.

thế bằng Luật Doanh nghiệp 2005 kể từ ngày 1/7/2006. Như vậy, những doanh nghiệp có nguồn gốc vốn từ khu vực kinh tế tr nhân hiện nay là những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới một trong các loại hình pháp lý được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 như công my cổ phản, công ty trách nhiện hữu .Lạm, công ty hợp danh và doanh nghiệp nhân.

2.2.2, Doanh nghigp nha nicée

Doanh nghiep nis mucéc ls doanh nghiép trong ab Nhà nước sở hữu trên 50%

vn diéu Ie. Đây là loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kính tế nhà nước, Tự cách pháp lý của loại hình doanh nghiệp này chính thức được xác định từ năm 1995, với việc Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp nhé nước 1995, còn trong thực tiễn, loại hình doanh nghiệp này đã xuất hiện và phát triển từ lâu, tiễn thân

của chúng chinh là các xi nghiệp quốc doanh được hình thảnh và phát triển từ thời.

kỷ kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 đã tạo cơ sở.

pháp lý cho việc tiếp tục và tăng cường quả trình sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp này, Luật Doanh nghiệp nhà nước 1993 được thay thể bằng Luật Doanh

"nghiệp nhà nước 2003, do đó quan điểm "doanh nghiệp nhả nước là những doanh nghiệp do Nhà nước thành lập và sở hữu 100% vốn điều lệ” trong Luật năm 1995 cũng được thay thế bằng quan điểm có tính phù hợp hơn ong tình hình mới tại Luật năm 2003 lã *doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ". Và theo đó thì doanh nghiệp nhà nước (theo Luật Doanh nghiệp 2003) gồm 3 loại là;

Công ty nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003. Có thể nồi, công ty nha nước là một công cụ dé Nhà nước

thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế của mình. Nh nước chỉ thành lập mới

loại hình doanh nghiệp này: những ngành, những địa bàn và những tĩnh vực quan trọng, then chốt như ở những ngành cung cắp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội, những ngành ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho.

24

ngành, lĩnh vực kinh tế khác cũng như cho toàn bộ nên kỉnh tế: những ngành đồi

hỏi vốn đầu tư lớn, hoặc thành lập ở những địa bản có điều kiện kinh tế ~ xã hội

đặc biệt khổ Khăn mà các thẳnh phần kinh tẾ khác không đầu tư

Công ty nhà nước được lô chức đưới ai hình thức là công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước, Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003, có ba loại

“Tổng công ty nhà nước à: Tổng công ty do Nhà nước quyết dịnh thành lập và đầu ta Tổng công ty do cấc công ty tự đầu tr và thành lập: và Tẳng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

Các công ty nhả nước phải thực hiện chuyển đổi theo lộ trình chuyển đổi hẳng,

năm sang hoạt động theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cỏ

phần được quy định trong Luật Doanh nghiệp, Thời hạn chuyển dỗi sông ty nhà

nước chậm nhất là ngảy 1/7/2010 (tức lả trong thời hạn 4 nấm kể từ ngày Luật

Doanh nghiệp 2005 cỏ hiệu lực). Và thực t đến thời điểm 1/7/2010, những công ty nhà nước nào châm thực hiển chuyển đổi thì đều bị buộc phải chuyển sang hoạt động đưới hình thức công ty trách nhiệm hữu bạn nhà nước một thành viên. KẺ từ

ngày 1/7/2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 chính thức hết hiệu lực và được.

thay thế hoàn toản bởi Luật Doanh nghiệp 2003. Những doanh nghiệp do nhà nước thành lập kể từ ngày Luật Doanh nghiệp 2005 có biệu lục đều phải được đăng ký, ổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và pháp luật có liên quan.

~ Công ty cổ phản: Doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty cổ phần gằm hai dạng là: công ty cổ phần nhà nước vã công ty cỏ phẫn cổ cb phần chỉ phối của Nhà nước. Trong đó, công ty cỗ phần nhà nước là công ty cỗ phần mã toàn bộ cỗ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chúc được Nhà nước úy quyền đầu tư vn, Còn công ty cô phẫn có cổ phần chỉ phối của Nhà nước là công ty cổ phần mã.

eŠ phần do Nhà nước nắm giữ chiếm trên 50% vẫn điều lệ do đó, Nhà nước giữ

quyển chi phổi đoanh nghiệp. Loại hình doanh nghiệp nay được thành lập, tổ chức

và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 1999 trước đây và hiện nay là Luật Doanh,

nghiệp 2005.

~ Công ty trách nhiệm hữu hạn: Doanh nghiệp nhà nước đưới hình thức công.

ty trách nhiệm hữu hạn cũng cỏ hai dạng lả: công ty trách nhiệm hữu hạn nha nước.

và công ty rách nhiệm hữu hạn có phần vốn gớp chỉ phổi của Nhà nước. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có đặc điểm là thành viên hoặc các thành nó đều là công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước ủy quyền đầu t

“doanh, loại nay bao gdm công ty trách nhiệm hữu han nhả nước một thành viên và.

cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viờn trở lờn. Cửn cụng ty trỏch.

2

nhiệm hữu hạn có phần vốn góp chỉ phối của Nhà nước là công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên mã vỗn gộp của Nhà nước chiếm trên 50% vẫn điều lệ và do đô Nhà nước giữ quyền chỉ phối. Loại doanh nghiệp nhà nước này công được thành lặp, tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 1999 trước

đây và hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2005,

"Như vậy, hiển nay mọi doanh nghiệp nhà nước đễu được thành lập, tổ chức

quan lý và hoạt động với những hình thức pháp lý được quy định trong Luật

Doanh nghiệp 2005.

2.2.3, Doanih nghiệp c vốn đẫu nước ngoài

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp cổ sự tham gia vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Loại doanh nghiệp nay đã xuất hiện ở Việt Nam từ

cuỗi những năm 1980 với việc Quốc hội ban hành Luật khuyến khích đầu tư nước

ngoài ở Việt Nam 1987, Năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã xác định hình thức phấp lý của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lã hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thành lập và hoạt động theo quy định của Luật nấy, Theo Luật Đâu tư nước ngoài tại Việt Nam (Luật này đã được sửa di ung năm 2000), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có ai dạng là: doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tiếp đó, Nghị định số 38/2008/NĐ-CP ngày 15/4/2003 của Chính phủ đã cho phép một số doanh nghiệp s6 vốn đầu tư nước ngoài chuyển đội sang hoạ động theo hình thức công ty cổ phản

Hiện nay, việc đẫu tư, thành lập, tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp só vốn đầu tư nước ngoài được quy định tại hai đạo luật thống nhất là Luật Doanh nghiệp 2005 và l.uật Dau tw 2005, Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, 2005, nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập hoặc tham gia thành lập tắt cả những loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp. Và các doanh nghiệp có vẫn đầu tư nước ngoài này có thể được hình thành từ nhiều phương thie khác nhau như: liên doanh giữa các nhà đầu tự trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, iên doanh giữa tổ chức kinh tế liên đoanh với các nhá đầu tư trong nước hoặc các nhà đầu tư nước ngoài; hoặc nhả đầu tư nước ngoài có thể đu tơ toàn bộ vốn để thành lập doanh nghiệp (doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây thì rong thời hạn 2 năm kể từ

"gây Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực (tức à ừ 1/7/2006 đến 1/7/2008) có thể ựa chọn một rong hai cách sau: một lã đăng ký lạ và ổ chức quản ý, hoại động theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; hai là, không đăng ký lại.

26

Một phần của tài liệu Giáo trình pháp luật kinh tế phần 1 (Trang 20 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(144 trang)