CHƯƠNG XI. QUAN TRI TIEN CONG VA TIEN LUONG

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị nhân lực (Trang 197 - 200)

lL Ý NGHĨA CỦA QUAN TRI TIEN CONG, TIEN LUGNG

Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cho tổ chức đạt được hiệu suất cao cũng như tác động một cách tích cực tới đạo đức lao động của mọi người lao động. Tuy nhiên, tác dụng của trả công còn tuỳ thuộc vào khả năng chi trả và ý muốn trả công của công ty cho người lao động trong tương quan với sự đóng góp của họ.

Một cơ cấu tiền công hợp lý sẽ là cơ sở để xác định lượng tiền công công bằng nhất cho từng người lao động cũng như là cơ sở để ¿ thuyết phục họ về lượng tiền công đó.

Các tổ chức cần quản trị có hiệu quả chương trình tiền công, tiền lương của mình vì kết quả của chương trình đó có ý nghĩa đặc biệt lớn. Tiền công không chỉ ảnh hưởng tới người lao động mà còn tới cả tổ chức và xã hội:

Đối với người lao động: người lao động quan tâm đến tiền công vì nhiều lý do:

s. Tiền công, tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp cho họ và gia đình trang trải các chỉ tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết.

"=_ Tiền công, tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ đối với tổ chức và đối với xã hội.

ô Kha nang kiếm được tiền cụng cao hơn sẽ tạo ra động lực thỳc đẩy người.

lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức.

Đối với tổ chức

"_ Tiền công là một phần quan trọng của chi phí sản xuất. Tăng tiền công sẽ ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của công ty trên thị trường.

"_ Tiền công, tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ và thu hút những người lao động giỏi, có khả năng phù hợp với công việc của tổ chức.

" _ Tiển công, tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quan lý chiến lược nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản lý nguồn nhân lực.

Đối với xã hội:

"Tiền công có thể có ảnh hưởng quan trọng tới các nhóm xã hội và các tổ chức khác nhau trong xã hội. Tiền công cao hơn giúp cho người lao động có sức mua cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng mặt khác có thể dẫn tới tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người có thu nhập không đuổi kịp mức tăng của giá cả. Giá cả tăng cao lại có thể làm giảm cầu về sản phẩm và dịch vụ và dẫn tới giảm công việc làm.

" Tién cong đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua con đường thuế thu nhập và góp phần làm tăng nguồn thu của chính phủ cũng như giúp cho chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Như đã đề cập tới ở chương trước, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới thù lao của người lao động và chủ yếu là tới tiền công của họ, trong đó đặc biệt cần nhấn mạnh là các yếu tố như: thị trường lao động; các quy định của luật pháp; sự đàm phán của công đoàn; mức sống trong vùng; triết lý, chiến lược và khả năng chi trả của doanh nghiệp; giá trị tương đối của công việc; cũng như sự thực hiện công việc, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thâm niên làm việc của người lao động. Những yếu tố đó tác động một cách độc lập với các yếu tố khác hoặc trong sự hài hoà với các yếu tố khác sẽ làm cho tiền công được xác lập cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc tác động tổng thể của chúng đối với tiền công.

Các hoạt động quản trị tiền công, tiền lương trong các tổ chức cần tuân thủ các quy định luật pháp của nhà nước về tiền công, tiền lương. Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật Lao động (ngày 23/6/1994 - có hiệu lực từ ngày 1/1/1995) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (ngày 2/4/2002 - có hiệu lực từ ngày 1/1/2003) với nhiều điều khoản có liên quan tới tiền công, tiền lương của người lao động, trong đó Chương VỊ - Tiền lương bao gồm các điều (từ 55 đến 67) quy định trực tiếp về tiền công, tiền lương. Chẳng hạn:

Điều 55 của Bộ luật Lao động quy định “mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định”.

Mức lương tối thiểu là số tiền nhất định trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất và diễn ra trong môi

trường lao động bình thường. Công việc đơn giản nhất là những công việc mà những người lao động có khả năng làm việc bình thường, không được đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật đều có thể làm được. Kể từ năm 1993, Nhà nước quy định mức lương tối thiểu mà mọi người sử dụng lao động phải tuân thủ.

Điều 59 Bộ luật Lao động quy định: “người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc”, “lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nước phát hành, đo hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động”.

Điều 60 Bộ luật Lao động quy định: “người lao động có quyền được biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền lương của mình”, “người sử dụng lao động... không được khấu trừ quá 30% tiền lương hàng tháng”, “người sử dụng lao động không được áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cắt lương của người lao động”.

Điều 61 Bộ luật Lao động quy định về trả lương làm thêm giờ, làm ca đêm v.v...

Các doanh nghiệp nhà nước, ngoài việc tuân thủ các điều khoản chung của Bộ luật Lao động còn phải tuân thủ những quy định riêng của quản lý doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ ban hành.

II. GIỚI THIỆU HỆ THỐNG THANG, BẰNG LƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC

&

Nhà nước ta ban hành hệ thống thang, bảng lương để trả lương cho người lao động trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp; cho những người làm các chức vụ bầu cử và cho lực lượng vũ trang nhân dân. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể tham khảo, vận dụng hệ thống này để xây dựng hệ thống tiền công của mình. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, hệ thống thang, bảng lương của nhà nước được dùng làm cơ sở để trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động và làm cơ sở để xác định giá trị đầu vào của sản phẩm.

Hệ thống tiền lương của nhà nước bao gồm bai chế độ tiền lương: chế độ tiền lương cấp bậc và chế độ tiền lương chức vụ.

1. Chế độ tiền lương cấp bậc

Chế độ tiền lương cấp bậc được thiết kế để trả công cho công nhân sản xuất căn cứ vào chất lượng lao động và điều kiện lao động khi họ thực hiện một công việc nhất định.

Một phần của tài liệu Giáo trình quản trị nhân lực (Trang 197 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(353 trang)