Khi nói về tôn giáo đang có mặt ở Trung Quốc, thông thường người ta sử dụng khái niệm "tam giáo", nghĩa là 70
"ba tôn giáo". Tam giáo gồm Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Để hiểu tình hình tôn giáo hiện nay ở Trung Quốc,
cần đặc biệt chú ý tới giai đoạn giữa thời Hán và Tống (trên thực tế đó là giai đoạn kéo dài 1 thiên niên kì).
Một mặt, thời bấy giờ diễn ra một quá trình Trung Quốc hoá Phật giáo mạnh mẽ, và mặt khác - "Phật giáo hoá truyền thống Trung Hoa". Hệ quả là vào thế kỉ 14 - 15 đã diễn ra sự xích gần nhau của ba học thuyết (giáo) chủ đạo. Cả ba học thuyết đó, ngay sau các thế kỉ 12 - 13 đều xuất phát từ thế giới quan - cảm thụ thế giới theo một kiểu mà nói nôm na là "pha trộn". Nó giả định bức tranh thế giới như một chỉnh thể và giống với các hình thức thực tiễn, trước hết là các bài tập quán tưởng (trực quan) dựa trên sự tự hoàn thiện đạo đức và tỉnh thần.
Tuy nhiên, hiện thực lại phức tạp hơn nhiều so với lược đồ tam đa truyền thống. Không thể gọi Nho giáo là một tôn giáo. Đa phần các nhà nghiên cứu đương đại đều thống nhất cho rằng, nó là học thuyết chính trị - đạo đức. Trong tiếng Hán cổ hoàn toàn không có từ "tôn giáo", từ này có gốc từ tiếng Nhật và được phiên âm như tiếng Nhật là ("siukiô"). Trong tiếng Nhật, từ này được xuất hiện vào cuối thế kỉ 19 để truyền đạt khái niệm
"tôn giáo" vốn được dịch từ các ngôn ngữ Châu Âu. Từ
"gido" chỉ có nghĩa "học thuyết", bất kế đó là học thuyết tôn giáo hay học thuyết nào khác.
Tính đặc thù và độc lập của tín ngưỡng và văn hoá dân gian mang tính pha trộn không liên quan đến Phật
giáo, Đạo giáo. Hoàn toàn có thể xem chúng như là truyền thống tôn giáo đặc biệt, không chỉ dưới hình thức chưa định hình, mà còn chưa được xếp vào hàng các tôn giáo. Thông thường, ở "tôn giáo dân dã" không có cơ sở văn tự - kinh thánh, văn kinh, vv. Sự kết hợp (pha trộn hoặc liên kết các tín ngưỡng, luận thuyết và sùng kính) là đặc trưng quan trọng của toàn bộ tính tôn giáo Trung Hoa (và nói rộng ra là của phương Đông). Thực vậy, cần nói thêm là, sự kết hợp tôn giáo ở Trung Quốc không phải là sự tổng hợp. Sự tác động lẫn nhau của các quan niệm khác nhau, cái cốt cách, lễ nghi, tín ngưỡng đa thần không dẫn tới sự xuất hiện tính chỉnh thể đơn điệu ở Trung Quốc. Đúng hơn, ở đó hình thành nên sự cố kết không có trật tự của tín ngưỡng. Nó phản ánh tính tôn giáo kiểu cổ đại được văn hoá dân quê tái tạo một cách thường xuyên.
Các tôn giáo độc thần (monoteism - tiếng Hi Lạp là
"mônô" - nghĩa là "một" và "teos" - "thần") vùng Địa Trung Hải - Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo yêu cầu rất cao về tính chân lí đặc biệt. Chẳng hạn,
không thể đồng thời vừa là tín đổ Thiên Chúa giáo, vừa
là tín đổ Hổi giáo được. Các tôn giáo Trung Quốc cho phép các tín ngưỡng khác nhau cùng tổn tại (trong đó có cả các thế giới quan của chính một cá nhân) theo.
nguyên tắc tính bổ trợ cho nhau. Các tôn giáo này sẵn sàng đưa vào thực tiễn hoạt động các yếu tố của cái khác mình. Sự kết hợp dân gian thể hiện qua sự pha trộn các yếu tố của ba học thuyết căn bản cộng với
72
những gì được tôn quý từ các thần thời thượng cổ: thần tự nhiên, các nhân vật huyền thoại trong lịch sử, vv.
Chẳng hạn, có thể thường xuyên thấy hình ảnh của Phật mà khuôn mặt của ngài luôn thể hiện cái nhìn - chăm chú được đúc kết từ hai gương mặt của Khổng Tử và Lão Tử. Hình ảnh của Khổng Tử, Lão Tử và Phật trong cùng một tổ hợp bài trí không phải là hiếm. Phật thường được bố trí ở giữa, song đó không phải là sự tôn kính Phật, mà là tổ hợp truyền thống của các tượng Phật. Đôi khi nhánh này hay nhánh kia của tam tài lại quan tâm đến văn kinh của nhánh khác. Chẳng hạn,
trong Đạo giáo, trường phái Toàn Chân giáo từng có lịch sử mấy trăm năm ở Bắc Trung Quốc lại nghiên cứu không chỉ các kinh của Đạo giáo, mà cả "Hiếu kinh" của Nho giáo và "Tâm kinh". Tại một trong các đền của Đạo giáo - Bạch Vân Quán ở trung tâm Bắc Kinh, khách tham quan có thể nhìn thấy tượng của nhà triết học Tống Nho là Chu Hy (1130 - 1200), người mà sinh thời không phải là đạo sĩ nổi tiếng.
Như vậy, người Trung Hoa không nhất thiết phải lựa chọn cho mình bọc thuyết nào trong số các học thuyết khác nhau. Anh ta có thể đồng thời thu nạp cả ba: ở công sở và gia đình anh ta là nhà nho, cùng bạn bè vui chốn thiên nhiên anh ta 1a dao si, lic ngồi một mình suy tư về lẽ sinh tử thì anh ta là phật tử. Bản thân một con người có quyền thăm viếng các đền chùa khác nhau và tham gia vào các nghỉ lễ khác nhau. Nếu ở trình độ truyền thống học thuật, thái độ đó được công nhận, thì
trong văn hoá dân gian, sự pha trộn của các tôn giáo và sự sùng kính được cảm nhận như là điều đương nhiên.
Một số nhà triết học giải thích sự kết hợp tôn giáo cá nhân như là hệ quả bổ sung lẫn nhau của Tam giáo trong sự thống nhất về bản chất của chúng. Nho giáo chỉ ra con đường tu thân và phục vụ trong bộ máy nhà nước. Đạo giáo dạy con người thái độ đúng đắn đối với vũ trụ và hài hoà với tự nhiên. Phật giáo dạy con người cách đi đến giải thoát tỉnh thần và vượt ra khỏi thế giới khổ đau để đến với Niết bàn.
Trong môi trường dân dã thì sự khác biệt giữa các
học thuyết là điều khó thấy. Chẳng hạn, khi có đám
cưới, người ta mời các đạo sĩ; có đám tang, mời các nhà sư; còn khi ốm đau hoặc có vấn đề về sinh hoạt, người ta mời thầy lang địa phương và các thầy mo.
Sự khác nhau giữa các tôn giáo ở Trung Quốc thường mang tính hình thức. Chẳng hạn, các nhà sư thường cạo đầu như ở Ấn Độ và mặc quần áo Ấn Độ (theo nguồn gốc của mình). Sự xích lại gần nhau về thế giới quan là cơ sở
để hình thành nên các hệ thống mà ở đó, sự kết hợp tôn
giáo được nhận thức và được minh chứng về mặt lí luận trong công thức giống như "tam giáo nhất thể" (tam giáo là một). Sự kết hợp được thực hiện và phát triển cho đến tận ngày nay. Bằng chứng về việc này có thể chỉ ra như giáo phái bị cấm cách đây không lâu ở Trung Quốc là "Pháp Luân công" (Thực hành bánh xe pháp, hoặc Phương pháp
vĩ đại của bánh xe pháp). Trào lưu này do vận động viên
74
điển kinh khí công Lý Hồng Trí thành lập vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ 20 (hiện nay vẫn tiếp tục tồn tại ở M?.