Sự tôn tại của cộng đồng nông dân ở Trung Hoa truyền thống gắn trực tiếp với các mối quan hệ gia đình lớn. Để ý đến tên gọi các làng cũng đủ hiểu. Về thực chất, mỗi một làng trong số đó đều là nơi cư trú của những người họ hàng. Lý gia trang - thôn trang nhà họ Lý, Vương gia trang - thôn trang nhà họ Vương, vv. Địa chủ cũng thường nằm trong các quan hệ họ hàng với nông dân. Cộng đồng họ hàng thôn xóm phần lớn là một tổ chức khép kín. Nó ít phụ thuộc vào các cộng đồng khác và hơn nữa, ít phụ thuộc vào thành phố (ngày xưa . các thành phố của Trung Quốc là những địa điểm hành chính, chứ không phải là các trung tâm công nghiệp).
Cuộc sống của cộng đồng dựa trên kinh tế tự nhiên và
được duy trì dưới các hình thức không đổi. Chính từ tính
biệt lập hoàn toàn với thực tế và lối sống tự cung tự cấp đó của cộng đồng dân cư nông nghiệp mà xuất hiện học thuyết Đạo gia về xã hội. Làng xóm nhỏ độc lập khép kín được xem là lí tưởng của Đạo gia.
Việc xây dựng các đế chế dẫn đến sự ra đời các nhà nước hùng mạnh là một áp lực lớn đối với các cộng đồng nông dân. Cần phải nuôi nhà nước và nộp thuế cho nó.
Việc nhà nước duy trì trật tự và theo dõi các công trình 110
thuỷ lợi là hết sức quan trọng đối với kinh tế nông nghiệp. Thêm nữa, nó còn có nhiệm vụ điều chỉnh lương thực cho các vùng bị mất mùa ở Trung Quốc. Như thế, cái thiết yếu không phải là cơ chế thị trường, mà là sự phân phối, điều chỉnh của nhà nước về lương thực trong cả nước. Nhà nước đảm bảo cái ăn và các sản phẩm khác nữa (chẳng hạn như vải vóc) cho một bộ phận dân cư, trước hết là cơ quan hành chính và các quan chức.
Liên quan với tính cộng đồng của tổ chức xã hội Trung Quốc là mối quan hệ với ruộng đất. Trong văn bản tư liệu của Nho giáo (“Mạnh Tử"), phương thức sử dụng đất là theo hệ thống "tỉnh điền". Mô hình ruộng đất đó cho chúng ta liên tưởng đến "cái giếng": bốn mặt của đơn vị ruộng là hình vuông, ở trong có 9 mảnh, tám mảnh xung quanh do tám hộ nông dân canh tác, mảnh ruộng ở giữa là ruộng công, các gia đình xung quanh có
trách nhiệm chung sức canh tác và sản phẩm thu được
nộp thuế cho nhà nước.
Toàn bộ đất đai, về mặt lí thuyết, là sở hữu của nhà nước. Trong "Kinh Thi" có nói rằng, "không có chỗ nào
trong thiên hạ lại không phải của Thiên tử, và bất kì ai
ăn hoa lợi của đất đó đều là thuộc hạ của Thiên tử".
Song, trên thực tế, bao giờ cũng tồn tại những yếu tố sở hữu tư nhân, mặc dù chúng được che đậy dưới hình thức sử dụng đất và nộp thuế cho nhà nước. Đã có một số lần
các hoàng đế (cụ thể là hoàng đế nhà Tấn nửa cuối thế
kỉ 3 và hoàng đế nhà Đường thế kỉ 7 - 8) thử áp dụng nguyên tắc chia bình quân ruộng đất trong cả nước. Họ
dự kiến chia toàn bộ đất đai theo số đinh từ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, các ý định như vậy không thu được kết quả gì cả. Thông thường, người sử dụng đất chuyển quyền sử dụng cho người khác (bị siết nợ được nguy trang dưới hình thức bán lại, vv.). Tự những người đó trở nên trắng tay hoặc trở thành những nông dân ít ruộng.
Về mặt hình thức, đất đai không được bán, hình thức sở hữu chỉ có thể là quyển sử dụng đất. Nhưng dù sao, việc mua bán đất ở Trung Quốc vẫn diễn ra, dầu việc đó là lén lút. Thực tế đó không phù hợp với cả hệ tư tưởng Nho giáo lẫn Đạo giáo và vì thế, việc mua bán đất gặp rất nhiều cản trở. Cộng đồng dân cư nông nghiệp đôi khi nổi loạn chống lại bọn nhà giàu và cướp tài sản của họ.
Còn chính quyền nhà nước thì có lúc tiến hành cải cách để chia đều quyền sử dụng đất cho nông dân. Hơn nữa, tỉnh thần "tư nhân hoá" cũng tổ chức chống lại các định mức bình quân của nhà nước và các giá trị của xã hội truyền thống.
Ở Trung Quốc, không có sự lệ thuộc cá nhân của nông dân vào địa chủ hoặc nhà nước và không có chế độ nông nô. Người cày gắn bó với công việc của mình bằng truyền thống và các mối liên hệ cộng đồng - gia đình.
Để đảm bảo việc đóng thuế kịp thời và kiểm soát
cộng đồng, nhà nước thường áp dụng chế độ bảo lãnh vòng tròn. Tất cả dân cư của làng được chia thành năm hoặc mười đơn vị theo số hộ. Mỗi một thành viên của nhóm chịu trách nhiệm cho số còn lại. Nếu hộ nào không
112
nộp thuế thì số hộ còn lại phải nộp khoản phạt. Một tổ chức như vậy đã làm tăng cường sự kiểm soát lẫn nhau và gây ra sự theo dõi giữa người này và người kia.
Các giá trị gia đình đã làm giảm hậu quả của sự bảo lãnh vòng tròn, song người ta vẫn không thay đổi nó.
Trong khi đó, sự bảo lãnh vòng tròn dường như đã làm xấu thêm mối quan hệ giữa các thành viên của gia đình lớn. Thế nhưng, cuộc sống là vậy, bản thân nó luôn chứa đây mâu thuẫn.