Nho giáo vốn kính trọng truyền thống. Vì vậy, ngay cả những cuộc cải cách căn bản đều được họ cảm nhận như là "sự quay trở về với thời cổ đại" (phục cổ). Cái ý nghĩa đặc biệt của tục thờ cúng tổ tiên, sự thiêng liêng hoá các giá trị gia đình, tính cơ sở và các thể chế nhà nước, tâm thế của công dân về lí tưởng hài hoà và cân bằng - tất thảy những cái đó đã bảo đảm cho tính ổn định đến kinh ngạc của nền văn minh Trung Hoa. Xã hội không gặp phải những chấn động mang tính thảm hoạ dẫn đến đảo lộn luân thường. Ở đây, không nên nói rằng, lịch sử Trung Quốc không có loạn lạc và các sự kiện. Ngược lại, đất nước hết trị rồi đến loạn, từng bị các tộc dân du mục đánh chiếm (đặc biệt phần phía Bắc), các cuộc khởi nghĩa nông dân và chiến tranh luôn phá
vỡ sự bình yên của Thiên hạ. Tuy nhiên, không có cuộc:
bạo loạn nào, không có sự thay đổi triều đại nào, không
có sự sụp đổ của đế chế nào có thể dẫn tới sự thay đổi căn bản của xã hội, của hệ thống các giá trị đã được hình thành cũng như chuẩn mực hành vỉ của con người.
Tính đông đúc về số lượng và tính đồng loại về mặt dân tộc của dân cư Trung Quốc đã làm cho sự đồng hoá lại những kẻ thôn tính diễn ra nhanh chóng. Các đại biểu của các dân tộc ít người buộc phải thích nghỉ với truyền thống của dân tộc chiến thắng, buộc phải áp dụng phong hoá cũng như cách tổ chức của người Trung Quốc.
Trong số các giá trị nền tảng của xã hội Trung Quốc, phải kể đến tính "đại đồng" và "thái bình" (sự cân bằng
phổ biến). Thuật ngữ "thái bình" có thể dịch theo nghĩa là "bình hoà", "công bằng", "thịnh vượng". Chính khái
niệm đó phản ánh mối liên hệ đặc trưng cho văn hoá truyền thống mà ở đó, có sự gắn kết giữa tính bền vững, tính ổn định và hạnh phúc. Trong các văn bản tư liệu Nho giáo, khái niệm "thái bình" thường được hiểu là
không có tính cực đoan, không có sự khác biệt, khác thường giữa người giàu và người nghèo của các tầng lớp cư dân cũng như giữa các vùng của đất nước. Để đạt được những giá trị lí tưởng nói trên, cần phải có sự quản lí kinh tế của nhà nước. Chẳng hạn, các quan chức kiểm soát sự luân chuyển nguồn lương thực dự trữ (ương thực từ tỉnh được mùa sang các tỉnh mất mùa, vv.), theo dõi việc sửa chữa đê điều và hệ thống thuỷ lợi, tức là tất cả những gì mà nền kinh tế nông nghiệp của các vùng
114
nông thôn cần đến, và tiến hành nhiều chức năng khác thuộc loại như vậy.
Trong Đạo giáo và đặc biệt là trong các phong trào chính trị - tôn giáo (đôi khi chúng được gọi là các giáo phá) xuất hiện trên cơ sở của Đạo gia, nghĩa của khái niệm "thái bình" được hiểu hơi khác. Có lúc, sự bình hoà được xem là lí tưởng mà để đạt được nó phải có bạo loạn.
Người ta kêu gợi cần phải xoá bỏ bằng bạo lực sự bất công - bằng xã hội. Đồi hỏi phải lật đổ vương triều mà Mệnh
Trời đã định đoạt trước đây để thiết lập một vương triểu
"]í tưởng" về công bằng, bình đẳng và thịnh vượng.
Vào những năm 184 - 204, đất nước Trung Hoa đã diễn ra cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân do thủ lĩnh giáo phái của Đạo giáo Thái Bình Đạo là Trương Giác cầm đầu. Ông này khẳng định rằng, đã đến lúc kết thúc kỉ nguyên của Thanh Thiên và sự bất bình đẳng cũng như bất công, giờ đây bắt đầu kỉ nguyên mới của Hoàng Thiên - nền hoà bình, công bằng, bình đẳng và thịnh vượng đang được thiết lập trên trái đất này. Bên cạnh đó là nhu cầu lật đổ nhà Hán thối tha của dân chúng. Cuộc khởi nghĩa đã từng chiếm được toàn bộ miền Đông Trung Hoa, nhưng sau đó, nó đã bị đàn áp. Quân đội của triều đình đã giết chết mấy triệu người. Tuy nhiên, cuộc bạo loạn đã xoá bỏ đế chế nhà Hán đang trên đà suy sụp và dẫn đất nước đến chỗ phân chia thành ba phần (Tam quốc;
220 - 280). Sự khủng hoảng này đã dẫn đến sự xâm lược miền Bắc Trung Quốc của các tộc dân du mục đầu thế kỉ 4, nó chỉ kết thúc vào cuối thế kỉ 6.
Trong sự tự phát của các phong trào nhân dân, các lí tưởng Đạo giáo về tính tự nhiên, bình đẳng, giản dị, sự quay trở về với tự nhiên thường được kết hợp với các tu tưởng cứu thế (sự xuất hiện của sứ giả thần thánh - Cứu độ) và tôn sùng vua hiền có khả năng thiết lập nền hoà bình và hạnh phúc trên Trái đất. Một trong số văn bản tư liệu tôn giáo của Đạo giáo thế kỉ 5 viết: "Vào lúc ta (Lão Quân như là sự thể hiện của Đạo) hiện hình, Trời và Đất cũng được tạo lập. Các luận điểm cũ kĩ của tất cả các sách và kinh đều biến mất. Học thuyết chân chính của các đạo sĩ được hồi sinh. Ta kêu gọi cuộc sống vĩnh hằng cho tất cả những người bị định mệnh trói buộc và ban thưởng cho họ liều thuốc tỉnh thần. Họ sẽ được ban cho cuộc sống bất tử và trở thành những tuỳ tùng của ta. Những người mắc tội lỗi đều trở thành vô tội, và bất kì ai gặp được ta cũng đều được kéo dài tuổi thọ. Và, nếu khi đó vị vua hay Thiên tử xứng đáng là những
người cầm quyền, ta lệnh cho các thánh địa phương
phục vụ họ và để họ có được cuộc sống như trước đây.
Nhưng, nếu kẻ cầm quyền nào xa rời học thuyết, thì sẽ có một nhà thông thái thay thế ông ta để yên dân. Khi thế giới được khôi phục trở lại, ta sẽ trở về thượng giới và ẩn trong núi Côn Lôn".
Trong một tác phẩm khác cùng thời có mô tả về "sự thiết lập của Trời và Đất" cũng như sự thịnh vượng của những ai đã đọc và đạt được sự bất tử dưới vương quyền của nhà vua chân chính. Trong tác phẩm đó cũng nói đến sự kéo dài thời hạn sống đến ba nghìn năm khi sứ
116
giả của Thánh Đế là Lý Hồng giành được chính quyền.
Người ta hứa hẹn rằng, nghèo đói và bần cùng sẽ được xoá bỏ. Chim phượng, kì lân và sư tử trở thành vật nuôi trong nhà. Sự trị vì sẽ xuất phát từ nguyên tắc vô vi, còn các chức vụ của các bộ sẽ do các đạo sĩ nắm giữ. ˆ
Trong sự không tưởng của triết học Đạo giáo, chúng ta thấy đã có sự tái tạo lại các tỉnh thần khác, vốn có nguồn gốc trong các tư tưởng vô chính phủ của các nhà
thông thái cổ đại như Lão Tử và Trang Tử, nó còn có tính
hoàn chỉnh và cấp tiến của thế kỉ 3 - 4. Một kết luận được rút ra là thời hoàng kim dường như đã được khôi phục lại không phải bởi ông vua toàn thiện, kế cả được Trời phái
xuống, mà ngược lại, bằng sự khước từ kẻ trị vì và sự
bất bình đẳng của các tầng lớp nói chung. Một đại biểu sáng giá của học thuyết vô chính phủ đầu tiên trong lịch sử loài người là Bao Ngôn (cuối thế kỉ 3 - đầu thế kỉ 4).
Ông là người chống lại bất kì chính quyển nào với tư cách là cơ sở của bất bình đẳng và sự tuỳ tiện.
Song, mặc dù vẫn còn những quan điểm cực đoan, xã hội Trung Quốc vẫn xa lạ với tư tưởng về một công cuộc cả1 tạo mang tính cách mạng. Các phong trào nông dân
(thường là những người theo Đạo giáo) với những khẩu hiệu bình quân, về thực chất đã đóng vai trò của một trong những yếu tố cần thiết cho việc duy trì sự ổn định.
Ngọn lửa khởi nghĩa bùng lên thông thường là do những ngôi nhà giàu có bị cháy. Những người nổi loạn đã khôi phục tính đơn thuần về xã hội và quyền sử dụng bình
quân về ruộng đất. Một số cuộc khởi nghĩa đã thực hiện được chức năng làm lành mạnh hoá xã hội bằng con
đường thay đổi giới thượng lưu cầm quyền (khi chu trình của một triều đại kết thúc). Song, trong bất kì trường hợp nào, họ cũng chỉ là những kẻ bạo loạn, chứ không phải là những người cách mạng. Sở đĩ như vậy là vì, trong ý định của những người tham gia phong trào chống đối, không bao giờ có sự cải tạo mang tính nguyên tắc (về cấu trúc) cái xã hội truyền thống và nhà nước, càng không có sự huỷ bỏ chúng.
Không cứ gì ở Đạo giáo, mà trong Nho giáo cũng có các tư tưởng phê phán và thậm chí, chống đối của xã hội. Lí thuyết Nho giáo đã làm cho người quân tử dũng cảm phê phán nhà vua vì phúc lợi của bản thân và phúc lợi của nhà nước do vua đứng đầu, trừng trị kẻ tham nhũng, ủng hộ tính công bằng. Và, những người không khoan nhượng đời nào cũng có. Cuộc sống của họ đôi khi bị kết thúc trên đoạn đầu đài, song truyền thống tiếp nối lại ngợi ca họ như những người kế tục chân chính của các bậc thánh hiền, như những người đã hi sinh cho nghĩa cả, chứ không phải vì cuộc sống riêng tư của mình. Các nhà Nho thường tham gia vào các phong trào nhân dân dưới khẩu hiệu tôn một Thiên tử chân chính lên ngôi thay cho kẻ tiếm quyền đang làm tổn hại đến Mệnh Trời. Trong trường hợp cuộc khởi nghĩa chiến thắng sẽ xuất hiện một vương triều mới, và những nhà Nho nổi loạn được ghi danh vào sử sách của vương triều chính thống như những chiến binh thông thái của người
118
sáng lập ra nhà nước. Còn trong trường hợp khởi nghĩa thất bại thì họ bị coi là những kẻ nổi loạn và phản bội.