Xã hội Trung Quốc không bao giờ yên ổn, nhưng nó cũng không biến đổi một cách tuyệt đối. Nó luôn có tính năng động. Tuy nhiên, trong suốt hai nghìn năm trở lại đây (chính xác là từ thế kỉ 2 tCn đến đầu thế kỉ 20), cơ cấu xã hội và những nguyên lí cơ bản của tổ chức xã hội và đời sống tinh thần, về nguyên tắc là không thay đổi.
Đó là xã hội ổn định, không có các cuộc cách mạng và những biến đổi mang tính nhảy vọt. Trước thế kỉ 2 tƠn, trong xã hội và giới thượng lưu trí thức đã mở ra những con đường khác nhau. Và, những người có suy tư, có học
thức đã đặt nền móng cho các mô hình khác nhau của tương lai. Điều này được thể hiện qua sự xuất hiện nhiều trường phái triết học khác nhau, từ thế kỉ ð đến thế kỉ 3 tCn. Sở sĩ như vậy là vì các học thuyết đó đã đề xuất các phương án cải tạo xã hội. Đế chế đầu tiên (nhà Tần) đã được thiết lập trên cơ sở của học thuyết Pháp gia. Thành quả của các nhà Pháp trị lại được những người đối lập với họ sử dụng - đó là các nhà Nho. Trong thời kì trị vì của nhà Han (206 tCn - 220 sCn), các nhà
Nho đã làm cho đế chế bình ổn. Họ đã làm ra bộ khung cho nhà nước mới và bộ khung đó trụ vững về cơ bản cho đến khi chế độ quân chủ bị lật đổ vào năm 1911.
Trong học thuyết của Lão Tủ, Trang Tử, Bao Ngôn đều có tư tưởng vô chính phủ, tư tưởng về một cơ cấu xã hội không nhà nước dựa trên cộng đồng tự do và tự quản.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, Đạo gia đã biến thành hệ thống tôn giáo. Nó bao hàm trong mình các yếu tố bạo động và cào bằng, nhưng lại không vượt ra ngoài giới hạn
của các chuẩn mực xã hội và nhà nước. Sau khi tiến hành
san bằng chính quyển nhà nước chuyên chế, các giáo phái của Đạo giáo và các phong trào của nghĩa quân nông dân lại trở thành lực lượng ổn định xã hội.
- Bổ sung cho hai học thuyết nói trên là triết học Phật
giáo đến từ nền văn minh khác (văn minh Ấn Độ). Khi
đó, hệ tư tưởng của các đế chế Trung Hoa đã đạt được sự ổn định hoàn toàn. Tam giáo, cũng như cái giá ba chân đã bổ sung cho nhau. Chúng đảm bảo sự hài hoà tương đối cho các quá trình tiến triển của đời sống xã hội và nhu cầu tinh thần của con người. Bộ ba giáo phái này đã làm cho đế chế Trung Hoa được bền vững và sự thống nhất trong đa dạng của nó được duy trì. Tuy nhiên, cùng với thời gian, sự quan tâm đến tính ổn định đã trở
thành nhân tố quyết định đối với xu hướng phát triển và tăng trưởng. Xã hội Trung Quốc và nền văn hoá tỉnh
thần của nó đã bị rơi vào tình trạng trì trệ. Có thể nói,
từ thế kỉ 14 đến thế kỉ 15 là thời kì kết thúc sự sáng tạo trong lịch sử văn minh Trung Quốc.
120
N ên văn hoá truyền thống Ân Độ được hình thành qua nhiều thế kỉ là một nên văn hóa mang tính tổng hợp và phổ quát. Nó không loại bỏ, không lược bỏ và cũng
"không bỏ quên" bất cứ một thứ gì. Dường như nó tin vào tính bảo toàn và sức sung mãn của mình. Chính vì vậy, nó dường như không cân đến "phên dậu bằng sắt" để che chắn các nên văn hoá của các nước và khu vực khác. Các đại biểu của những nên văn minh khác vì lí do nào đó đã xuất hiện trên đất Ấn Độ đêu cố gắng thích nghỉ với nên văn hoá này, tiếp thu các tư tưởng và tập quán của nên văn hoá này và suy ngẫm về chúng theo cách của người Ấn Độ.
Lang Tajo Mahan (thé ki 17)
122