(VŨ TRỤ TINH NGUYÊN LUẬN)
Cái có ý nghĩa lớn lao đối với người Ấn Độ là vấn đề
thế giới xuất hiện bằng cách nào, ai (hoặc cái gì) là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện thế giới ấy và cấu trúc của nó ra sao? Câu trả lời là không giống nhau.
Ngay cả các văn bản của Vệ đà cũng đưa ra một số phương án khác nhau về nguồn gốc vũ trụ. Theo một trong các phương án đó, có lẽ là cổ nhất, thì Trời (Diaus)
và Đất (Prithivi) xuất hiện từ một thể thống nhất khi thể thống nhất này bị phân chia tại thời điểm nào đó.
Trạng thái đó được gọi là "amhas”, nghĩa là "chật chộ", không có không gian. Amhas của Vệ đà hoàn toàn giống với trạng thái "hỗn mang" trong quan niệm của người Hi Lạp. Một vị thần hùng mạnh xuất hiện (Tnđra hoặc vị thần khác nào đó) đã chia tách hai lĩnh vực đó ra và thiết lập giữa chúng một cái cột vũ trụ, đồng thời tạo ra giữa chúng một không gian (antaricsa). Thay vào chỗ .196
chật chội là sự xuất hiện khoảng trống rỗng (uruloca), hoặc nói theo ngôn ngữ của chúng ta, là vũ trụ. Thêm nữa, cuộc chiến giữa Indra với asura Vitra cũng có thể được xem như là mấu chốt của sự hình thành vũ trụ.
Bản thân Vitra chính là sự thể hiện trạng thái hỗn loạn của thế giới. Khi hoàn thành sứ mệnh tiêu diệt xong kẻ thù, Indra đã tổ chức và thiết lập trật tự của Đại vũ trụ.
Theo quan điểm phổ biến nhất thì cơ sở vật chất đầu
tiên của thế giới là nước. Tại một thời điểm nào đó, đã
xuất hiện quả trứng vũ trụ bao bọc một vị thần sáng tạo tự sinh tương lai. Người ta gọi nó là Hiranjagarbha (mầm vàng). Sau một năm tuân thủ phép tu khổ hạnh, hay là tapaas (sự tu hành khổ hạnh phổ biến ở Ấn Độ từ nửa cuối thiên niên kỉ thứ 1 tƠn, được xem là phương tiện hữu hiệu nhất của việc tích luỹ trong thân thể một năng lượng tỉnh thần đặc biệt), vị thần này đã phá vỡ vỏ bọc và bước ra ngoài. Nửa phần trên của vỏ trứng được thần lấy làm trời, còn nửa dưới thì làm đất. Điều thú vị là ở chỗ, trong vũ trụ luận Babylon, Ai Cập, Hi Lạp, nước vũ trụ cũng được xem là vật chất khởi thuỷ.
Một truyền thuyết khác lại cho rằng, thế giới xuất hiện do vật hiến tế của con người vũ trụ là Purusa.
Purusa có dáng vẻ của một người không bình thường: có nghìn đầu, nghìn mắt, nghìn chân và bản thân nó là khởi thuỷ của cả đàn ông lẫn đàn bà. Các thần đem đồ tế đến cho Purusa, và từ một trong những phần cơ thể của nó xuất hiện các yếu tố của vũ trụ ("Rigveda"):
... trăng được sinh ra từ thân của thần, Từ mắt của thân sinh ra Mặt trời, Tw miéng sinh ra Indra va Agni, Từ hơi thở sinh ra gió.
Từ rốn xuất hiện bầu không gian, không khí, Từ cái đầu phát triển lên thành trời,
Từ chân sinh ra đất, bốn phương sinh ra từ tai.
Các thần lam ra toờn bộ thế giới như uậy đó.
Môtip này cũng giống với thần thoại của vùng Xcanđinavơ, ở đó các thần đứng đầu là Duy nhất đã dùng thuỷ tổ của con người là Imira làm đồ hiến tế. Điều thú vị là, bên cạnh các bộ phận của Đại vũ trụ, từ Purusa còn có bốn đẳng cấp người (tăng lữ Bà La Môn, võ sĩ, thường dân và tiện dân), động thực vật và các giá trị tỉnh thần, như các bài tần ca và các hình thức ma thuật.
Cuối cùng, ở một số văn bản Vệ đà ("Rigveda"), bản nguyên phi cá nhân cũng được xem là nguồn gốc của thế giới, nó cao hơn cả tổn tại và phi tổn tại, "trên và dưới", sống và chết. Đó là cái Thống nhất nào đó (êkam), là tỉnh thần cao nhất "mà khi thở không làm lay động không khí". Trong nó xuất hiện sự ham muốn (kama) - đó là động thái đầu tiên của sáng tạo dẫn đến nguồn gốc sâu xa của vũ trụ trong tương lai.
Các tư tưởng đó cũng như các tư tưởng vũ trụ luận khác cũng được phát triển trong các văn bản của đạo Bà La Môn. Thần Pradjapati đứng đầu vạn thần miếu, còn
198
Brahma ở đây thường biểu hiện như là đấng sáng tạo. Nó ức chế bản thân bằng việc tu hành khổ hạnh, sau đó tiến hành sự sáng tạo nhờ các vật hiến tế. Trong Satapatha - brahmana có nói: "Đúng ra thì lúc đầu dường như
không có thực tại, không có phi thực tại. Lúc đầu lẽ ra là có và cũng dường như không có. D6 chỉ là tư duy. Tư duy là thứ được tạo ra, là cái muốn được thể hiện, được
trình bày một cách rõ ràng, có thể diện hẳn hơi. Nó đi
tìm Atman. Nó trung thành với Tapas. Nó nhìn thấy ba mươi sấu nghìn ngọn lửa của Atman, thấy những tia sáng phát ra từ tư duy và được hình thành bởi tự duy.
Nhờ có tư duy, các vật hiến tế mới được thực hiện, ... tư duy làm ra ngôn từ". Nét đặc trưng này cho thấy, dường như sự sáng tạo luôn được giải thích là sự hiến tế. Hoạt động lễ nghi, tế tự được các nhà tư tế thực hiện đã phản ánh các quá trình toàn cầu diễn ra trong Đại vũ trụ.
"Upanishad" nhìn chung vẫn tiếp tục phát triển theo các văn bản sơ khal. Song, trong các văn bản đó đã có các quan niệm về thế giới không vĩnh hằng. Thế giới đó xuất hiện vào một thời kì nào đó, rồi sau đó lại biến mất (phá huỷ), giống như con nhện lúc đầu nhả tơ, sau đó kéo ngược trở lại. Con nhện ở đây là biểu tượng cho khởi thuỷ của thế giới mà từ đó nay sinh ra vũ trụ. Khởi thuỷ đó, trong sự biến đổi của vạn vật, vẫn luôn là cơ sở bất biến
của thế giới. Vả lại, trong các "Upanishad", có thể bắt
gặp không chỉ tư tưởng về nguồn gốc thống nhất của vũ trụ, mà còn cả ý niệm về sự cùng tổn tại vĩnh hằng của
vật chất và sáng tạo. Về sau, trên cơ sở của "Upanishad", trong Hindu giáo sơ kì đã xuất hiện học thuyết về ba hình thức. Theo học thuyết này thì có đến ba giai đoạn tổn tại của thế giới: sáng tạo, bảo tổn và phá huỷ.
Trong Hindu giáo, nguồn gốc vũ trụ cũng được trình bày thông qua biểu tượng của các thần. Trong thời kì xác định, thần tuyệt đối và vĩnh hằng (Siva hay là Visnu) sinh ra thần khác (hoặc là sự thể hiện) mà sứ mệnh của vị thần này là kiến tạo nên thế giới cụ thể và thiết lập cơ cấu của nó. Nó sinh ra cả vật chất lẫn linh hồn. Thông thường, vai trò của đấng sáng tạo là do thần Brahma thực hiện. Brahma sáng tạo từ vật chất không biểu hiện, tức là không thể nhận biết được bằng mắt thường, nhưng cùng tổn tại với thần. Vật chất ấy, về mặt tiểm năng, luôn hàm chứa toàn bộ sự đa dạng của thế giới. Nói cách khác, Brahma dường như "thờ ở" với vật chất ở các hình thức và kết cấu của nó, nhưng lại đem đến cho thế giới một cuộc sống. Cùng tổn tại với Brahma còn có linh hồn của vô số các sinh thể. Đối với chúng, nhiệm vụ của đấng sáng tạo là làm thế nào để chúng có hình dáng riêng.
Chính Brahma cũng mang tính trần tục. Giới hạn cuộc sống của nó hoàn toàn mang tính tưởng tượng so với độ tuổi trần thế. Một ngày của Brahma có thể kéo đài đến 4 tỉ 320 triệu năm trần thế! Chỉ cần một ngày nó cũng đủ để sản sinh ra cả thế giới này. Đêm của Brahma cũng có từng ấy thời gian. Một ngày đêm của 200
Brahma tạo thành một kalpa. Một năm của Brahma là 360 kalpa. Brahma sống được 100 năm (người ta tính rang hién tai Brahma dang ở tuổi 51). Sau thời hạn đó, Brahma sẽ chết, Đại vũ trụ dần dần "tan ra", để hoà vào tinh thần tuyệt đối. Sau nữa, từ Tuyệt đối lại xuất hiện thần - sáng tạo (Brahma mới) dưới dạng Mầm Vàng, vật chất, tỉnh thần, và mọi thứ lại được bắt đầu với thời kì mới. Tóm lại, chu trình lớn nhất được tính bằng 311.040.000 triệu năm trần thế. Đến lượt mình, ngày của Brahma lại chia thành 1000 "thời đại" (mahaiuga).
Tại mỗi một thời đại có 4 thế kỉ. Độ dài của chúng so với nhau được phản ánh qua tỉ lệ 4:3:2:1. Tính ra thì một mahaiuga là 4.320.000 năm thường. Thế kỉ hạnh phúc nhất và dài nhất trong số mahaiuga là thế kỉ kritaiuga.
Khi đó con người chỉ tôn thờ một thần (chung); họ chỉ có một Vệ đà, không buôn bán, không đau ốm, không gặp điều ác, không tham lam, áp bức, tàn bạo và các thói hư khác. Luật đạo đức (dharma) vững vàng đứng trên "tứ tru" - su thật, lịch sự, kính trọng và cảm thông. Thế nhưng, cùng với thời gian, mọi cái sẽ ngày càng xấu đi.
Vào thế kỉ thứ hai và thứ ba (tretaiuga va dvaparaiuga), lối sống xấu xa ngày càng tăng dần, bệnh tật tràn lan, việc thờ thân cũng kém phần tôn vinh, trang trọng. Thời kì tổi tệ nhất là thời kì mà chúng ta đang sống. Đó là thế kỉ Kaliuga hay còn gọi là "thế kỉ bất hạnh".
Người Ấn Độ cho rằng, khởi đầu của thời đại bất
hạnh này là một cuộc chiến tương tự như trận đánh trên