Biểu 7: Thái độ sùng bái các hãng xe máy

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp xã hội học tập 2 (Trang 26 - 30)

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG

Biểu 7: Biểu 7: Thái độ sùng bái các hãng xe máy

được đo lường theo thang thứ bậc

Ông (bà, anh, chị)

Hãy xếp thứ tự các hãng xe máy dưới đây theo mức độ ưa thích của mình Đánh số 1 vào hằng thứ tự của hãng mà ông (bà, anh, chị) ưa thích nhất, số 2 vào hàng thứ tự của hãng được ưa thích thứ 2...

Tên hãng Thứ tự mà ông (bà, anh, chị) xếp

Honda Ha...

SUZUKI cece cece ceeeeee

Kawasaki Lecce nce nceeeee

Thang thứ bậc được dùng rất phổ biến trong đo lường sở thích của cá nhân cũng như nhóm xã hội. Sự đo lường bằng thang thứ bậc đòi hỏi ít thời gian hơn sự đo lường bằng thang so sánh theo từng cặp. Tháng thứ bậc hạn chế được các phương án trả lời vi phạm tính chuyển tiếp. Với n khách thể, thang thứ bậc chỉ đòi hỏi có (n - 1) quyết định, trong khi đó thang so sánh theo từng cặp yêu cầu phải có:

-1 gs

=" = ) quyết định.

Ưu điểm khác của thang thứ bậc là sự chỉ dẫn cách làm ở đây đơn giản, đễ hiểu. Nhược điểm chủ yếu của thang thứ bậc là các cứ liệu thu được ở đây chỉ là các cứ liệu chứa đựng thông tin thứ tự.

3. Thang có tổng các trị số không đổi

Đó là thang so sánh, có tổng các trị số là một hằng số. Những người

trong mẫu nghiên cứu có nhiệm vụ phân chia tổng trị số đó cho một nhóm

khách thể theo một tiêu chuẩn nhất định.

Bảng dưới đây, những người trong mẫu nghiên cứu được yêu cầu phân chia 100 điểm cho các thuộc tính của loại xà phòng "Bông mai".

Thuộc tính quan trọng nhất được chia nhiều điểm nhất, thuộc tính ít quan

trọng nhất được chia ít điểm nhất, thuộc tính không quan trọng tương ứng với điểm 0.

Biểu 8: Tâm quan trọng của các đặc điểm của xà phòng

"Bông Mai" được đo bằng thang tổng trị số không đổi

Chỉ dẫn:

Dưới đây chúng tôi liệt kê 8 thuộc tính của xà phòng "Bông Mai".

Ông (bà, anh, chị) hãy phân chia tổng số điểm là 100cho các thuộc tính ấy. Thuộc tính mà ông (bà, anh, chị) cho là quan trọng nhất cần được chia nhiều điểm nhất, thuộc tính càng ít quan trọng thì càng được chia ít điểm. Thuộc tính nào không quan trọng thì cho điểm 0. Nếu thuộc tính này quan trọng gấp đôi thuộc tính kia thì nó có số điểm gấp đôi số điểm của thuộc tính kia.

Kết quả trả lời của ba nhóm như sau:

Thuộc tính Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3

1. Độ mềm 8 2 4

2. Độ kết dính 2 4 17

3. Khả năng sinh bọt 3 9

4. Giá 53 17

5. Mùi thom 0 19

_|6. Hình thức bao bi 5 9

7. Độ ẩm 3 20

8 Sức tẩy sạch 13 60 15

Tổng 100 100 100

Các thuộc tính được định vị bằng cách lấy tổng số điểm mà mỗi

thuộc tính được mọi người chia cho tổng số người tham gia cho điểm. Bảng trên trình bày kết quả thụ được từ ba nhóm. Thuộc tính quan trọng nhất đối với nhóm thứ nhất là giá cả, đối với nhóm thứ hai là sức tẩy sạch, đối với nhóm thứ 3 là độ ẩm và mùi thơm. |

Ưu điểm chủ yếu của thang tổng trị số không đổi là nó cho phép phân biệt rạch ròi các khách thể mà không đòi hỏi quá nhiều thời gian.

Nhược điểm thứ nhất ở đây là những người tham gia cho điểm có thể dùng quá hoặc dùng không hết tổng số điểm quy định của chúng ta.

Trong ví dụ trên họ có thể dùng 110 điểm hoặc 90 điểm chứ không phải 100 điểm như chúng ta quy định. Nhược điểm thứ hai ở đây là nếu tổng số điểm mà chúng ta quy định ít quá sẽ khó phân chia, nhiều quá sé dé gây sự nhiễu tạp trong kết quả cho điểm hoặc làm cho những người cho

điểm căng thẳng, mệt mỗi.

4. Thang phân hạng nhanh: Thang này được phát triển để phân biệt nhanh một lượng khách thể tương đối lớn. Ở đây theo thủ tục của thang thứ tự các khách thể được phân loại thành các nhóm trên cơ sở đồng nhất theo một tiêu chuẩn nhất định. Ví dụ, những người tham gia phân loại được cung cấp 100 tấm thẻ. Trên mỗi thẻ ghi một tuyên ngôn về thái độ.

Những người phân loại cần phải phân phối chúng thành 11 nhóm bất đầu từ nhóm các tuyên ngôn mà người phân loại cảm thấy hầu như hoàn toàn tán thành, nhóm cuối cùng là nhóm các tuyên ngôn mà người phân loại ít đồng ý với chúng nhất. Số các khách thể cần có để phân thành các loại nhóm ở đây không nên ít hơn 60 hoặc nhiều hơn 100. Số lượng từ 60 đến 90 là phù hợp nhất.

II. ĐO LƯỜNG BẰNG CÁC THANG PHI SO SÁNH

Thang phi so sánh - đó là loại thang thông qua nó mỗi khách thể được đọ đạc một cách độc lập đối với các khách thể khác trong nhóm các khách thể được đo đạc. Các thang phi so sánh được phân thành thang đánh giá liên tục và thang đánh giá theo các tiêu chí.

1. Thang đánh giá liên tục còn được gọi là thang đánh giá theo biểu đô. Ở đây người ta đánh giá các khách thể bằng cách đánh dấu vào vị trí tương ứng trên một đoạn đường thẳng khởi đầu từ cực này sang cực kia của biến số được đánh giá. Ở đây những người tham gia đánh giá không bị giới hạn bởi các phương án trả lời do nhà nghiên cứu định trước. Hình thức của thang đánh giá liên tục có thể thay đổi. Ví dụ trục biểu đồ có thể nằm ngang hoặc nằm đọc, các điểm trên thang đo có thể là các con số hoặc các hình tượng.

Dưới đây là ví dụ về 3 biến thái của thang đánh giá liên tục:

Biéu 9:

Ông (bà, anh, chị) đánh giá như thế nào vẻ hiệu quả công việc chống tham những của chính quyền thành phố ta trong năm qua? (đánh dấu trên trục đồ).

Dạng thứ nhất:

IRất thấp...----Ă SH HH HH HH ng ng ngư, Rất cao Dạng thứ nhất:

Rất thấp...-- 2< 22s SH ST 2111111 xrrrveo Rất cao 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Dạng thứ nhất:

Rất thấp Vừa phải Rất cao

si... ... Rất cao 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Khi người tham gia đánh giá đã đánh dấu vào trục đồ, nhà nghiên cứu có thể phân trục đồ thành nhiều phạm trù theo ý mình và ấn định số điểm tương ứng với mỗi phạm trù. Các điểm số này thường có đặc tính của các cứ liệu trong thang khoảng. Ưu điểm của thang đánh giá liên tục là ở chỗ nó dễ thiết kế. Song việc đánh dấu trên trục đồ là một công việc khó và không thực tế. Ngoài ra thang đánh giá liên tục không có khả năng đưa lại cho chúng ta một lượng thông tin mới đáng kể.

2. Thang đánh giá theo tiêu chí đó là thang đo có các trị số gắn liền với các phương án trả lời (phạm trù) nhất định. Mỗi phạm trù có một vị trí xác định trên thang đo. Những người tham gia đánh giá khách thể có nhiệm

vụ đánh dấu vào phạm trù tương ứng với khách thể. Ở đây chúng ta sẽ mô

tả một số hình thức phổ biến của loại thang đo này. Đó là thang Likert, thang vi phân ngữ nghĩa, thang Stapel.

Thang Likert. Đó là thang đo có 5 phương án (phạm trù) trả lời bắt đầu từ phương án "hoàn toàn không tán thành" đến phương án "hoàn toàn tán thành". Ở đây những người trong mẫu nghiên cứu của chúng ta có nhiệm vụ bày tỏ mức độ tán thành hoặc không tán thành của mình đối với một loạt tuyên bố (ý kiến) có liên quan đến khách thể mà chúng ta quan tâm.

Dưới đây, chúng ta sẽ minh họa việc dùng thang Likert bằng ví dụ cụ thể:

Một phần của tài liệu Giáo trình phương pháp xã hội học tập 2 (Trang 26 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(89 trang)