Trong cuốn sách xuất bản năm 2005 "Toward New Found Cofidence" (Tạm dịch: Tin tưởng hướng tới những phát hiện mới) của Hiệp hội an sinh thế giới ( ISSA- thành lập từ năm 1980): an sinh xã hội giống như là sự phối kết hợp các thành tố (hợp phần) của chính sách công, có thể điều chỉnh đáp ứng nhu cầu của những người công nhân, các công dân trong bối cảnh toàn cầu với sự thay đổi về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học chưa từng xảy ra”. Theo các phát hiện mới này thì an sinh xã hội là các thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân. Những vấn đề mà Hiệp hội an sinh thế giới quan tâm nhiều là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống lương hưu và chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội; phúc lợi cho trẻ em, nhất là nhóm trẻ em trong các gia đình nghèo, gia đình thu nhập thấp.
* New ISSA publication .December 2005.
-FRƯỜNG ĐẠI HỌC:LAO:-ĐỘNG - XÃ HỘI 55
Cách tiếp cận của Hiệp hội an sinh thế giới về an sinh xã
hội có những nét mới đó là việc coi an sinh xã hội như là các
thành tố của chính sách công và các chính sách có thể điều chỉnh
nhăm đáp ứng những nhu cầu của công nhân, công dân trong bối cảnh có sự biến động về kinh tế, xã hội, và nhân khẩu học. Nhu cầu của công dân luôn có sự thay đổi nhất là khi họ đứng trước các rủi ro và nguy cơ rủi ro/về mắt thu nhập hoặc giảm thiểu về thu nhập hoặc trở thành nghèo: tương đối mặc dù thu nhập của họ không giảm.
Các tiếp cận này đồng thời dựa vào nhu cầu của công dân và quyền của con người trong quá trình phát triển, có thể thấy,
đây là cách tiếp cận tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập và sự phụ thuộc
vào nhau giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ ngày càng gia tăng.
-_ Điều này không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của từng quốc gia mà còn đòi hỏi trách nhiệm của cả cộng đồng quốc tế.
5. Theo các tài liệu của Nhật Bản
Trong cuốn sách “Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển chính sách phúc lợi xã hội”, năm 2005 do TS. Đỗ Tiên Kính
dịch Hệ thống an sinh xã hội ở Nhật Bản có những thành phần
chính là: (¡) Bảo hiểm xã hội, (¡) Chăm sóc sức khỏe cho người già, chăm sóc y tế và sức khỏe công cộng, (iii) Phuc lợi xã hội,
và (iv) Trợ giúp công cộng. Bảo hiểm xã hội là thành phần lớn
nhất, nó bao gồm các khoản trợ cấp, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm việc làm và bảo hiệm bôi thường tai nạn lao động”.
56 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Bên cạnh khái niệm về an sinh xã hội, giới học giả Nhật Bản còn sử dụng thuật ngữ đảm bảo xã hội và phúc lợi xã hội và đang còn có sự tranh luận giữa hai trường phái; trường phái thứ nhất cho rằng, đảm bảo xã hội trong đó có an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; ngược lại trường phái thứ hai cho rằng, phúc lợi xã hội trong đó đã bao hàm cả;đảm bảo xã hội và an sinh xã hội.
- Trường phái thứ ba dung hòa cho rằng, cả ba thuật ngữ trên có
nội hầm như nhau. .
Theo quan niệm của các học giả Nhật Bản về hệ thống phúc lợi xã hội thì chính sách phúc lợi bao trùm khá nhiều vấn
đề liên quan đến cuộc sống của những người lao động, người nghỉ hưu, các đối tượng yếu thế trong thị trường lao động và
các đối tượng bảo trợ xã hội, nội hàm của phúc lợi xã hội bao gồm hết những vấn đề cơ bản của an sinh xã hội, và đặc biệt là
phúc lợi về y tế được chia tách thành các nội dung rất rõ ràng và cụ thể như, chính sách chăm sóc sức khoẻ người già, chính sách chăm sóc y tế và sức khoẻ cộng đồng, chính sách chăm
sóc sức khoẻ người khuyết tật. Về phúc lợi cộng đồng thì Nhật
Bản đặc biệt quan tâm đến các chính sách về nước sạch công cộng, vệ sinh môi trường, và những phúc lợi xã hội khác có liên quan đến số đông cộng đồng dân cư. So sánh hệ thống phúc lợi xã hội của Nhật Bản với hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia khác thì thấy rằng, nội hàm phúc lợi xã hội của Nhật Bản rộng hơn nội hàm của an sinh xã hội; điều này có sự khác biệt với quan niệm về phúc lợi xã hội ở châu Au, vé co ban quan niém vé phúc lợi xã hội ở châu Âu có nội hàm và
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 57
phạm vi hoạt động hẹp hơn an sinh xã hội, thậm chí nó chỉ là một bộ phận hợp thành của an sinh xã hội trong đó tập trung vào các chính sách trợ cấp xã hội, trợ giúp cho trẻ em trong các
gia đình nghèo, gia đình có thu nhập thấp, phụ nữ đơn thân:
nuôi con nhỏ, phụ nữ nghèo, van dé nha ở, vấn để sưởi ấm trong mùa đông cho những người và gia đình có thu nhập thấp.
Tuy vậy việc trợ cấp cho người thu nhập thấp thường gắn với vấn đề thất nghiệp, mat việc làm và là dạng trợ cấp có điều
kiện và diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, chứ không
phải là trợ cấp trong một khoảng thời gian dài như trợ cấp xã hội cho người già...
Sự không thống nhất về quan niệm giữa các quốc gia, châu
lục về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một trở ngại rất lớn
cho việc so sánh, phân tích đánh giá. Vì vậy vẫn đề quan trọng là _ phải hiểu được nội hàm của từng vấn đề mà các quốc gia đề cập đến và dựa vào nội hàm của từng vấn đề để phân tích, so sánh, nhằm bảo đảm tính tương thích và sự hiểu biết lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu khoa hoc, dao tao va quan ly.
6. Theo các tài liệu của Hoa Kỳ về an sinh xã hội
Tại Hoa Kỳ, phạm vi của hệ thống an sinh xã hội rộng hơn, đối tượng tham gia hệ thống an sinh xã hội bao gồm tất cả các thành viên trong xã hội; các hợp phần chủ yếu của an sinh
xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm y
tế, trợ giúp xã hội và phúc lợi xã hội cho trẻ em. Hầu hết các nguồn quỹ của hệ thống an sinh xã hội khi hình thành đều được
58 -zTRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
sự hỗ trợ một phần của ngân sách nhà nước. Trong hệ thống an
sinh xã hội của Hoa Kỳ, bảo hiểm y tế có nét đặc thù riêng.
Bảo hiểm y tế là hệ thống bảo hiểm tư nhân, nhưng lại mang
tính chất bắt buộc đối với đại bộ phận dân cư và được nhà
nước bảo trợ. Nhà nước có hai chương trình đặc biệt về chăm
sóc y tế dành cho 2 đối tượng đó là chương trình MediCare
dành cho người già và chương trình MediAid dành cho người
khuyết tật. Đây là hai nhóm đối tượng được coi là không có
khả năng tự chủ về tài chính nên được Nhà nước bao cấp về chăm sóc sức khỏe Ý; các đối tượng khác về cơ bản đều phải tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc.
Như vậy, có thể thấy khái niệm An sinh xã hội (Social
security) bao gồm các chính sách nhằm chống lại sự rủi ro đối với mọi công dân, trong đó có các đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng yếu thế trong thị trường lao động bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chế độ trợ giúp xã hội và các chương trình trợ giúp các đối tượng là người già, người khuyết tật.
7. Quan niệm của Việt Nam về an sinh xã hội
Theo các tài liệu hiện có thì các chuyên gia Việt Nam cũng có hai quan niệm về an sinh xã hội, mặc đù các quan niệm này đều có chung một cách tiếp cận là dựa vào khái niệm chính thống của ILO và tình hình thực tiễn ở Việt Nam (quan niệm là cấp độ thấp hơn so với khái niệm xét về mặt khoa học).
Nguyễn Mạnh Cường - Xây dựng mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam -2006
TRƯỜNG ĐẠI.HỌC:LAO ĐỘNG ôXÃ HỘI 59.
Quan niệm thứ nhất cho rằng, an sinh xã hội có cấu trúc thành 3 hợp phần cơ bản, ˆ Quan niệm này cho rằng, an sinh xã hội chính là "an ninh xã hội" vì theo nguyên gốc tiếng Anh là
"Social security" và như vậy nó sẽ làm rõ hơn tầm quan trọng của hệ thống chính sách này và nó được thiết kế theo nguyên tắc () Phòng ngừa rủi ro, (ii) Giám thiểu rủi ro, (ii) Trợ giúp người gặp rủi ro và (iv) Cuối cùng là bảo vệ người gặp rủi ro.
Hệ thống an sinh xã hội theo quan niệm này gồm ba hợp
phần chính là:
(i) Hé thống chính sách và các chương trình về thị trường lao động, đây được coi là tầng phòng ngừa trong toàn bộ hệ.
thống an sinh xã hội bởi chính sách thị trường lao động tích cực sẽ đưa những người trong độ tuổi lao động tham gia vào thị trường lao động, giúp họ có việc làm, có thu nhập và tạo nguồn thu cho cả hệ thống an sinh xã hội.
(1) Hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, đây được coi là
xương sống của toàn bộ hệ thống an sinh xã hội quốc gia, vì đây la cdu phan ma "chi" dua trén co so "thu". Hé thong bao hiém x4 hội tạo ra sự ôn định lâu dải của hệ thống an sinh quốc gia. Bởi.
vậy các quốc gia đều cố gắng thiết kế hệ thống bảo hiểm xã hội quốc gia đa dạng về hình thức và nhiều "tang ndc" dé sao cho sé người trong độ tuổi lao động, có việc làm, có thu nhập có thể tham gia một cách đông đảo nhất.
Tai liệu hội thảo an sinh xã hội 2005 - Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội
60 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
(iii) Hé thống chính sách và các chương trình trợ giúp xã hội: các chính sách và các chương trình trợ giúp xã hội này bao gồm của cả Nhà nước và xã hội, trong đó nguồn lực của Nhà nước phân bổ theo những chính sách mang tính chất phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội, và cứu trợ xã hội nhằm trợ giúp các đối tượng yếu thế như người khuyết tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi không nguồn nuôi dưỡng và trợ giúp khẩn cấp cho những người gặp rủi ro do thiên tai.
Bản chất của hệ thống an sinh xã hội là các lưới an toàn xã hội hay còn gọi là lưới an sinh xã hội. Hệ thống lưới ASXH gồm có nhiều tầng lưới khác nhau, các lưới này có hai chức năng co ban 1a "hing" va "bat"; khi các đối tượng rơi xuống lưới nào
đó, việc đầu tiên là lưới này sẽ làm nhiệm vụ hứng đỡ, sau đó sẽ
làm nhiệm vụ bật đối tượng lên khỏi lưới; trong trường hợp lọt
qua tắm lưới này vẫn còn tắm lưới khác hứng đỡ và giữ lại; tắm lưới cuối cùng phải là tắm lưới chắc chắn nhất để các đối tượng không bị rơi xuống đáy của xã hội, tức là không bị bẦn cùng hoá.
Quan niệm thứ hai cho rằng, An sinh xã hội có cấu trúc