Khái niệm về bảo trợ xã hội

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn an sinh xã hội (Trang 71 - 75)

II. CÁC KHÁI NIỆM, THUAT NGỮ CÓ LIEN QUAN DEN AN SINH XA HOI

2. Khái niệm về bảo trợ xã hội

Theo thuật ngữ Lao động - Thương binh và Xã hội, NXB LĐXH năm 1999 thì “Báo trợ xã bội là hệ thống các chính

sách, chế độ, hoạt động của chính quyên nhà nước các cấp và hoạt động của cộng đông xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm mục tiêu giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc hãng hut trong cuộc sống có điều kiện tổn tại và có cơ hội hoà nhập cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần đảm

2 ^ . ` A 2 ~ A.mẽ]

bảo ôn định và công băng xã hội

Bảo trợ xã hội ở Việt Nam thường được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Bảo trợ xã hội theo nghĩa rộng nó có khái niệm, nội hàm và vai trò giống như an sinh xã hội; còn Bảo trợ xã hội theo nghĩa hẹp (truyền thống) là hệ thống cơ chế, chính

sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm

trợ giúp và bảo vệ những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong cuộc sống (còn gọi chung là đối tượng xã hội) ổn định cuộc sống và hoà nhập cộng đồng như người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn

cánh đặc biệt, người bị nhiễm HIV/AIDS, những người là nạn

nhân của thiên tai và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác.

!! Thuật ngữ Lao động - Thương binh và Xã hội, NXB LĐXH 1999 trang 54

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 71

Bảo trợ xã hội theo nghĩa hẹp không có đầy đủ chức năng phòng ngừa, hạn ché va khac phục rủi ro cho tất cả các thành viên trong xã hội. Độ bao phủ của nó chỉ giới hạn trong phạm

vi các đối tượng xã hội chứ không phải hướng tới tất cả các

thành viên trong xã hội và hoạt động của nó mang nặng tính bị động đối phó với rủi ro hơn là chủ động phòng ngừa và hạn

chế rủi ro. SỐ | |

Theo cuốn sách “Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi

ở Việt Nam”, xuất bản năm 2005 thì khái niệm về bảo trợ xã hội

của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) như sau : “Bảo trợ xã hội là một hệ chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bắt lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”. Khái niệm này nhắn mạnh vào tính dễ bị tổn thương của con người nếu không có sự bảo trợ xã hội, và tác hại của thiếu bảo trợ xã hội đối với nguồn vốn con người.

Tuy vậy, theo một tài liệu khác có tiêu đề "Social Protection Index for Commnitted poverty Reduction" của Ngân hàng phát

triển châu Á (ADB)” thì khái niệm bảo trợ xã hội như sau: “ Bdo

trợ xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đây có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập”. Theo khái niệm này, Bảo trợ xã hội có 5 hợp phần chính (1) Các chính sách và

” Pilot DMC report: Vietnam -Final version (january 2005)

72 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

chương trình thị trường lao động, (ii) Bảo hiểm xã hội, (ii) Trợ giúp xã hội, (iv) Quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (v) Bảo vệ trẻ em. Đây cũng là những hợp phần có tính đặc thù của bảo trợ xã hội theo quan niệm của các chuyên gia ADB.

Khái niệm của Ngân hàng châu Á về Bảo trợ xã hội được nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế bình luận là quá rộng,

khó bảo đám tính bền vững về tài chính.

Trong cuốn sách "Báo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thoi

ở Việt Nam”, xuất bản năm 2005 cũng đưa ra khái niệm về bảo trợ xã hội (BTXH) của Ngân hàng Thế giới và khái niệm này có nội hàm rất gần với khái niệm về an sinh xã hội (ASXH) mà các

quốc gia đang thực hiện, cụ thể như sau: “Bảo trợ xã hội là những

biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiểm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Khái niệm này nhắn mạnh sự kiềm chế nguy cơ là cơ sở của bảo trợ xã hội; Bảo trợ xã hội vừa là lưới an toàn, vừa là bàn đạp thông qua sự phát triển nguồn vốn con người 'Ý.

Tuy vậy, trong các tài liệu và hội thảo khác có sự phối hợp của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam lại phát hiện thấy khái

niệm về Báo trợ xã hội khác hơn một chút, có thể minh chứng cụ thé vé van dé nay: Theo cách tiếp cận mới, Ngân hang thé gidi có một khái niệm rộng hơn về Bảo trợ xã hội so với quan niệm

° Bao trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam - 2003

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 73

hiện có của các nước đang phát triển. Bảo trợ xã hội không chỉ là bảo vệ an toàn cho con người thông qua các biện pháp, các lưới an sinh khắc phục rủi ro, hạn chế rủi ro mà còn bao gồm cả các biện pháp, các lưới an sinh phòng ngừa rủi ro như việc trợ

giúp duy trì việc làm ổn định, chống thất nghiệp, duy trì thu nhập, bảo hiểm tuôi già... Khi bàn về "cấu trúc của Bảo trợ xã

hội” trong cuỗn sách "Đánh giá sự nghèo đói và chiến lược, xuất

bản năm 1995" !“ thì cũng chỉ đề cập đến 3 chương trình lớn đó là () Bảo hiểm xã hội (BHXH) cho những người làm công cho

nhà nước, bao gồm cán bộ và công nhân xí nghiệp nhà nước, (ii) Trợ cấp cho thương bệnh binh và các gia đình liệt sỹ, (1i) Các biện pháp trợ giúp xã hội. .

Từ các tài liệu khác nhau cho thấy quan niệm về bảo trợ xã

hội hay an sinh xã hội của Ngân hàng Thế giới có nội hàm rộng và bao phủ gần hết các vẫn đề thực tế đang diễn ra ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Quan niệm này có thể giúp

nước ta hoàn thiện được khái niệm chính thống về an sinh xã hội

hoặc bảo trợ xã hội.

ILO cũng có một khái niệm về bảo trợ xã hội “social protection”, theo ILO “Bảo trợ xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự Suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp” l3. khái niệm này nhẫn mạnh chiều cạnh

!* Đánh giá sự nghèo đói và chiến lược (WB- xuất bản tháng I-1995)

® Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thoi ở Việt Nam - 2005.

74 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu

vực kinh tế không chính thức.

Theo ILO, thi “social protection” là khái niệm rộng, bao gồm hệ thống bảo hiểm xã hội, những nhu cầu cơ bản của an sinh xã hội về giáo dục tiêu học, chỗ ăn ở (tối thiểu), nước sinh hoạt, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Hiện nay, theo ILO, khái niệm về “social protection” còn bao gồm cả nội dung về an toàn lao động.

ILO có cả khái niệm về an sinh xã hội và bảo trợ xã hội, song một điều dễ nhận thấy là hai khái niệm này có một số điểm trùng

nhau, song khái niệm về bảo trợ xã hội có nội hàm rộng hơn.

Theo Cơ quan Quốc tế phát triển Vương quốc Anh (DFID) thì: “Bảo trợ xã hội là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính dễ bị tốn thương, nguy cơ gây sốc và bần cùng hoá, là những điều không thê chấp nhận được về mặt xã hội”. Khái niệm này cũng nhắn mạnh tính dễ bị tổn thương và sự bần cùng hoa; Bao trợ xã hội hướng vào những người nghèo nhất, đễ bị tổn thương nhất hoặc khó khăn nhất, là những người thuộc tầng lớp có hoàn cảnh không ai mong muốn trong xã hội; Khái niệm của Cơ quan quốc tế phát triển Vương quốc Anh có điểm tương đồng với khái niệm về bảo trợ xã hội của Ngân hàng châu Á.

Theo bình luận của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam thì khái

niệm này chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn an sinh xã hội (Trang 71 - 75)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(284 trang)