II. CÁC KHÁI NIỆM, THUAT NGỮ CÓ LIEN QUAN DEN AN SINH XA HOI
5. Thuật ngữ về bảo đảm xã hội
Trong từ Điển bách khoa Việt Nam toàn tập (1995) khi nói
về Bảo đảm xã hội, các tác giá đã cho rằng "thuật ngữ này tương đương với bảo trợ xã hội, an sinh xã hội". Trong luật Ngân sách Nhà nước thì thuật ngữ “chi bảo đảm xã hội” được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, nó không bao gồm chi bảo hiểm xã hội, chỉ cho các đối tượng có công mà chủ yếu để chỉ cho các nhu cầu của các đối tượng xã hội.
Theo các tài liệu của Nhật Bản, Pháp thì bảo đảm xã hội có nội hàm khá rộng, nó tương tự như khái niệm về bảo trợ xã
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 79
hội theo nghĩa rộng, nó có nội hàm lớn hơn an sinh xã hội, nó bao gồm cả an sinh xã hội. Trong tải liệu về “Các mô hình bảo đảm xã hội ở Pháp” do các chuyên gia công tác xã hội ở Pháp (Mireille Flageul va Andre F lageul),'” trình bày tại hội thảo khoa học Việt - Pháp 2005 thì Bảo đảm xã hội có nội hàm rộng hơn
bất cứ khái niệm nào hiện có.
Ở Nhật Bản hiện nay trong giới chuyên môn về phúc lợi xã hội đang tranh luận về phạm vi sử dụng hai thuật ngữ “bảo đảm
xã hội” và “phúc lợi xã hội”. Một loại ý kiến cho răng, bảo đảm
xã hội là một phạm trù lớn, phúc lợi xã hội chỉ là một trong
nhiều yếu tố cấu thành của hệ thống bảo đảm xã hội. Ý kiến
khác cho rằng: phúc lợi xã hội là phạm trù lớn, bảo đảm xã hội
chỉ là một khía cạnh của phúc lợi xã hội. Quan điểm thứ ba
thuộc loại trung gian coi phúc lợi xã hội và bảo đảm xã hội là một khái niệm chung. Như vậy, việc phân biệt giữa hai khái
niệm này quả là không đễ dàng. Song, điều có thể đễ nhận thấy
là nội dung của hai khái niệm này có cái chung, cái đồng nhất.
Sự khác nhau chủ yếu là ở phạm vi, quy mô hoạt động, hình thức biểu hiện. Cũng có tài liệu nói cụ thể hơn như sau: “Ở Nhật Ban bao đảm xã hội gồm có 2 vấn đề: bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội. Bảo hiểm xã hội yêu cầu người tham gia phải trả lệ phí để được hưởng quyền lợi. Bảo hiểm xã hội bao gồm trợ cấp công cộng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm việc làm và tai nạn lao động
! Hội thảo về chính sách xã hội từ kinh nghiệm của Pháp 17.1.2006 (Mireile Flageul va Andre Flageul)
80 TRUONG DAI HOC LAO DONG - XA HO!
cho công nhân. Trợ giúp xã hội gồm cả trợ giúp công cộng và các dịch vụ phúc lợi xã hội. Người nhận sự trợ giúp của xã hội chỉ phải trả một phần rất nhỏ của chỉ phí dịch vụ hoặc không
nhất thiết phải trả lệ phí”?
6. Thuật ngữ về phúc lợi xã hội
Theo từ điển bách khoa Việt Nam Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội 2003 thì “Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tỉnh thân của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động. Phúc lợi xã hội bao gồm những chỉ phí xã hội như trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp BHXH, học bồng cho học sinh, những chỉ phí cho học tập không mắt tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi an dưỡng,
ơ 21
nhà trẻ, mâu giáo... `
Tuỳ theo trình độ phát triển, quỹ phúc lợi xã hội có thể là quỹ tập trung do Nhà nước quản lý, quỹ phúc lợi của các doanh nghiệp, quỹ phúc lợi tập thé hợp tác xã...
Theo Đề tài “Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: hiện trạng và xu
hướng” do PGS.TS Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đề tài, năm 2003, thì : “Phúc lợi xã hội là một hệ thống, một thiết chế hay
một lĩnh vực nhất định của xã hội, nhằm đảm bảo thỏa mãn
? †S. Đỗ Tiên Kinh, Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển chính sách
phúc lợi xã hội, năm 2005 ,
?! Từ Điển bách khoa Việt Nam - NXB từ Điển bách khoa, Hà Nội 2003, tập 3 trang 507
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 81
những nhu câu xã hội thiết yếu của các tầng lớp dân cư theo những điều kiện của văn hóa/cấu trúc xã hội” ? Theo khái niệm này thì nội dung của phúc lợi xã hội tùy thuộc vào phạm vi những nhu cầu thiết yếu xã hội, đồng thời việc xác định những nhu cầu này đo văn hóa/cẫu trúc xã hội trong mỗi trạng thái xã hội cụ thể quy định. Như vậy, phúc lợi xã hội liên quan đến việc ổn định và phân phối. các hoàn cảnh. sống của con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm và
phát triển nghề nghiệp, nhà ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe, gia đình
và học tập; đương đầu VỚI Các rủi ro và biến có đời sống: trên cơ
sở mở rộng bình đẳng và công bằng trong một bối cảnh lịch sử
và cấu trúc xã hội nhất định. Những hoàn cảnh sống trên hợp thành không gian hay thế giới phúc lợi.
Theo tài liệu về Nhà nước phúc lợi Thụy Điển” thì phúc
lợi xã hội bao gồn ba hợp phần cơ bán đó là (i) Hệ thống giáo dục, (ii) Y té va (iii) An sinh xã hội.
Theo các tài liệu của Nhật Bản thì phúc lợi xã hội gồm:
“4 lĩnh vực (thành phần) chủ yếu là (¡) Trợ giúp cho người
nghèo khổ; (1) Chăm sóc người tật nguyễn, người già và những người ở hoàn cảnh bất lợi khác; (11) An sinh xã hội bao gồm những khoản tiền hưu trí, bảo hiểm sức khỏe và bồi
thường lao động; (iv) Chăm sóc sức khỏe công cộng như phòng bệnh, các trung tâm sức khỏe và bảo vệ môi trường.
?2 Phúc lợi xã hội ở Việt Nam: hiện trạng và xu hướng, 2003. Bùi Thế Cường
? Tài liệu nghiên cứu của Viện khoa học xã hội Việt Nam 2006.
82 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Hầu hết các chính sách này được hình thành sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai".
- Theo các tài liệu nước ngoài khác thì “Phúc lợi xã hội (Social welfare) trong một số trường hợp là khái niệm để chỉ những chính sách mang tính xã hội dùng tiền từ ngân sách nhà nước để phục vụ miễn phí cho các thành viên trong xã hội. Ví dụ các khoản chỉ từ ngân sách Nhà nước trực tiếp cho người dân về giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao,.. Tại một số nước như Trung
Quốc, phúc lợi xã hội lại để chỉ khoản trợ cấp xã hội thường
xuyên cho những người thất nghiệp, người già, tàn tật,.. không có khả năng tự kiếm sống. Chính sách này phổ biến ở một số nước Bắc Âu (nên những nước này còn được gọi là Quốc gia Phúc lợi - welfare state). Trước kia, ở Hoa Kỳ, Anh và một số nước phát triển cũng áp dụng chính sách này, nhưng sau đó người ta thấy việc duy trì chỉnh sách này không hiệu quả: Nhà nước sẽ phải chỉ những khoản chỉ rất lớn, còn người dân thì lại
trở nên “lười” hơn, không có động lực tự kiếm sống. Chính vì vậy mà từ cuối những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ trước, các
nước này đã chuyên sang chính sách ““welfare to work” nghia la Nha nước chỉ trợ cấp hoàn toàn trong một thời gian ngắn, thường là dưới 6 tháng. Trong thời gian đó, người được trợ cấp buộc phải đi học một nghề gì đó. Nhà nước sẽ hỗ trợ việc học nghề và giúp tìm việc. Sau đó, người này bắt buộc phải đi làm
* 1%. Đỗ Tiên Kinh, Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển chính sách phúc lợi xã hội, 2005.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 83
công việc mà Nhà nước giới thiệu, nêu không đi thì cũng không còn được hưởng trợ cấp nữa.”
7. Thuật ngữ về lưới an toàn xã hội (-hay còn gọi là lưới
an sinh xã hội) ,
Theo một số nước ASEAN, thuật ngữ lưới an toàn xã hội để chỉ các chính sách mang tính an toàn, bao gồm cả những chính sách ngắn hạn và đài hạn, có những chính sách chỉ áp
dụng trong những hoàn cảnh và thời điểm nhất định chứ không mang tính an sinh - dài hạn như trợ cấp cho người thu nhập thấp, trợ cấp cho lao động đôi đư do quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, tính giảm bộ máy hành chính sự nghiệp, trợ giúp đột xuất cho nhân dan vùng bị hậu quả nghiêm trọng của thiên tai... Tuy vậy, cũng có chính sách mang tính chất an sinh dài hạn như trợ cắp cho người già cô đơn, người
tàn tật, trẻ em mồ côi. Chính vì lẽ đó mà trước đây Việt Nam
thường chia làm hai loại cứu trợ đột xuất và cứu trợ thường xuyên, tuy nhiên tính chất dài hạn trong các chính sách này cũng chỉ là tương đối.
Để đễ hiểu, người ta thường hay ví lưới an toàn xã hội
“Social safety nets” như tắm lưới bảo hiểm sử dụng trong tiết mục nhào lộn và đu bay tại các rạp xiếc. Người biểu diễn khi đu
bay thi đã có đây bảo hiểm buộc vào người nhưng khi nếu sự cố xảy ra thì dù có rơi xuống thì vẫn có tấm lưới bảo hiểm bên
25 Nguyễn Mạnh Cường - Xây dựng mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam -2006
84 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
dưới. Tấm lưới này giúp cho người biểu diễn không rơi xuống đất, nhưng cũng không cho phép người bị rơi vào lưới bám mãi
vào lưới mà phải bật lên trở lại. Đây chính là ý tưởng thiết kế
của lưới an toàn xã hội mang tính chất ngắn hạn: nó chỉ đóng vai trò bảo vệ cuối cùng, đảm bảo cho thành viên trong xã hội không bị rơi xuống dưới mức mà xã hội đó cho là đã không an toàn, nhưng chỉ mang tính chất tạm thời chứ không thể bám vào lưới lâu dài: người được bảo vệ phải được trả trở lại với những
chế độ mang tính dài hạn và ổn định.
Lưới an toàn xã hội ở một số nước ASEAN áp dụng gồm 4 cầu phần cơ bản sau:
(1 Đảm bảo an ninh lương thực tránh để xảy ra đói,
(i) Đảm bảo giáo đục không bị ngắt quãng do ảnh hưởng về tài chính của khủng hoảng,
(ii) Đảm bảo những yêu cầu tối thiểu về chăm sóc y tế, (iv) Chinh sách tạo việc làm và thu nhập thay thế tạm thời cho những người bị mất việc đo khủng hoảng. Lưới an toàn xã
hội chỉ là giải pháp tình thế, áp dụng trong thời kỳ xảy ra khủng
hoảng, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước và mang tính
chất thụ động, đối phó.
Việt Nam đã từng có những chính sách mang tính chất của lưới an toàn xã hội, ví dụ như chính sách hỗ trợ thực hiện giảm
biên chế theo Quyết định số 176 vào những năm đầu của thập kỷ 90 và gần đây nhất vào năm 2003-2006 là theo Nghị định số 41
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 85
đối với những lao động ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước bị đôi
dư khi doanh nghiệp đóng cửa, tổ chức lại hay chuyển đổi hình
thức sở hữu. Những đối tượng phải tính giảm biên chế theo Quyết định số 176 được hỗ trợ một khoản trợ cấp để duy trì cuộc sống trong khoảng thời gian nhất định tùy theo thời gian làm việc và mức lương của họ tại các doanh nghiệp, thông thường là
một khoản kinh phí trọn gói và mỗi năm công tác một tháng
lương theo ngạch bậc, ngoài ra còn được hỗ trợ học chuyển đổi nghề, tạo việc làm mới phù hợp.
8. Thuật ngữ hệ thống an sinh xã hội
Hệ thống an sinh xã hội là sự tổng hợp của các chương trình và chính sách an sinh xã hội được sắp xếp theo một trật tự lôgíc theo các hợp phần khác nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các hợp phần này đều có chung chức năng và mục tiêu cơ bản là bảo vệ sự an toàn cho các thành viên trong xã hội trước các nguy CƠ rủi ro.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào người ta cũng phân biệt một cách rành mạch giữa an sinh xã hội và hệ thống an sinh xã hội; nhiều khi người ta vẫn sử dụng hai thuật ngữ này thay thế cho nhau vì nội hàm cơ bản của nó chứa đựng chung các cơ chế, chính sách và giải pháp của Nhà nước và cộng đồng, nhằm giúp cho các thành viên trong xã hội đối phó với rủi ro và bảo vệ sự an toàn cho các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ rủi ro. Ngay trong khái niệm về an sinh xã hội được rút ra từ các khái niệm khác nhau về an sinh xã hội
86 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
cũng đã cho rằng: An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chỉnh sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro....
Trong những hoàn cảnh nhất định thì việc dùng thuật ngữ hệ thống an sinh xã hội thay thế cho khái niệm an sinh xã hội vẫn có thể chấp nhận được về mặt ngữ và nghĩa.
9. San an sinh xã hội
Sản an sinh xã hội là một thuật ngữ mới xuất hiện từ năm 2009. Thuật ngữ này cũng là do các chuyên gia của ILO đề xuất và quảng bá, thuật ngữ này có từ gốc tiếng Anh là “Social Protection”. Sàn an sinh xã hội là ám chỉ các chuẩn mực tối thiểu cần được bảo đảm cho các hợp phần khác nhau của hệ
thống an sinh xã hội; Theo cách hiểu này thì các chuyên gia
Việt Nam cũng đã đề cập đến các lưới an sinh xã hội, và các nước ASEAN cũng đã sử dụng thuật ngữ lưới an sinh xã hội từ
những năm giữa thập ký 90 của thế kỷ XX, khi mà một số
nước trong khu vực gặp khủng hoảng kinh tế, buộc phải áp dụng biện pháp mở rộng chính sách trợ giúp xã hội tạm thời cho người nghèo, người thu nhập thấp. Việt Nam cũng đã áp dụng các chính sách tạm thời này cho người nghèo, người thu nhập thấp vào những năm 2008-2009 khi mà Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế trong nước và khủng hoảng về kinh tế và tài chính trên phạm vi toàn cầu. Thuật ngữ
“Social Protection” ở Việt Nam trước đây thường dịch là bảo trợ xã hội; Tuy nhiên, theo quan điểm mới của các chuyên gia ILO, thì sàn an sinh xã hội bao gồm nhiều sàn khác nhau của
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 87
hệ thống an sinh xã hội, đây được coi là giới hạn để bảo đảm an toàn cuộc sống của con người; điều này cũng giống như
Việt Nam khi đặt ra các mức chuẩn tối thiểu cho các nhóm đối
tượng khác nhau khi tham gia vào hệ thống an sinh xã hội như hệ thống các mức chuẩn tối thiểu bao gồm: Mức chuẩn tối thiểu trợ cấp xã hội cho các đối tượng xã hội; mức chuẩn tối thiêu bảo hiểm tuổi già cho những người làm công ăn lương tham gia bảo hiểm xã hội; mức chuẩn tối thiểu trợ cấp ưu đãi người có công với cách rnạng; mức chuẩn tối thiểu của tiền lương, tiền công: mức chuẩn tối thiểu được xác định là nghèo đói, nếu sống dưới mức đó thì không bảo đảm nhu cầu sinh tồn tối thiểu của con người.