An sinh xã hội và chính sách thuế, tài chính

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn an sinh xã hội (Trang 98 - 103)

IV. MÓI QUAN HỆ CỦA AN SINH XÃ HỘI

5. An sinh xã hội và chính sách thuế, tài chính

_Thể chế tài chính của hệ thống an sinh xã hội có mối quan.

hệ chặt chẽ với chính sách thuế và tài chính. Chính sách thuế và

tài chính của từng quốc gia không hoàn toàn giống nhau; Một số nước theo quan điểm nhà nước phúc lợi thì thu thuế rất cao, kê cả thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng hoặc thuế xuất nhập khẩu cũng như các khoản thuế và lệ phí khác; thuế đánh vào lao động và tiêu dùng hơn là vào vốn và sản xuất. Nguồn

thu cao, Nhà nước có điều kiện thực hiện các chính sách an sinh

98 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

xã hội nói riêng, chính sách xã hội nói chung tốt hơn. Bài học

kinh nghiệm của Thụy Điển là thu thuế cao, phúc lợi xã hội tốt,

song kinh tế vẫn tăng trưởng liên tục trong nhiều năm, nhất là

thập kỷ 90. Ngược lại một số quốc gia muốn khuyến khích tăng

trưởng nhanh hơn lại thu thuế thấp hơn; thuế thấp dẫn đến thu Ngân sách nhà nước thấp, do vậy hạn chế đến việc cung cấp nguồn lực tài chính cho các chính sách an sinh xã hội. Thông thượng các quốc gia thu Ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 20- 25% GDP, do vậy GDP càng cao thì Ngân sách Nhà nước càng

lớn và có điều kiện cho việc thực hiện các chính sách xã hội nói

chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng.

Tuy nhiên, nhiều phần tích của các nhà khoa học cho thấy, cần có sự hài hòa giữa các chính sách phát triển kinh tế, chính

sách thuế với các chính sách xã hội nói chưng và chính sách an sinh xã hội nói riêng: mục tiêu là vừa có nguồn tài chính để thực hiện các chính sách an sinh xã hội mà vẫn nuôi dưỡng được

nguồn thu, tức là thu vừa phải để thúc đây kinh tế phát triển,

điều này có ý nghĩa quan trọng để phát triển ôn định, bền vững cho mọi lĩnh vực cả về an sinh xã hội, kinh tế và tài chính.

Chính sách tài chính đóng vai trò rất quan trọng cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, mặc dù nguồn Ngân sách

Nhà nước có thể cao hoặc thấp tuỳ thuộc vào chính sách thuế;

song việc phân bổ chỉ tiêu ngân sách nhà nước cho các khoản chỉ

của Nhà nước có ý nghĩa quyết định, nếu mục chỉ cho các chính

sách an sinh xã hội hào phóng thì việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội sẽ thuận lợi và ngược lại mục chi cho các chính sách

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 99

an sinh xã hội thấp thi việc thực thi các chính sách an sinh xã hội

gặp nhiều khó khăn. Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính

sách an sinh xã hội tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của từng quốc gia, một số nước phát triển Ngân sách Nhà nước dành cho các chính sách an sinh xã hội lên tới 30% chiếm khoảng 15% GDP, song cũng có nước chỉ đạt mức 10%. Nước ta đang trong quá trình đổi mới do vậy việc tính tổng nguồn chỉ cho hệ thống an sinh xã hội rất phức tạp, vì nó được bố trí theo 4 kênh khác nhau (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp người có công và trợ giúp xã hội) và cũng rất khó để so sánh với các nước trong khu vực và thế giới, nhưng ước tính cũng khoảng 5-7% Ngân sách Nhà nước và

2,5- 3% GDP. |

6. An sinh xã hội và hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế không chỉ thuần tuý là sự hội nhập về

kinh tế mà nó còn tác động mạnh đến các chính sách xã hội, văn hoá nói chưng. Hệ thống chính sách an sinh xã hội cũng không năm ngoài quy luật chi phối đó mà thậm chí nó còn bị tác động

mạnh hơn của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là các chính sách bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội.

Hội nhập kinh tế thé giới kéo theo sự lệ thuộc vào nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, sự đầu tư trực tiếp của nước ngoài, sự đi chuyển thể nhân và di chuyển lao động cũng sẽ gia

tăng. Một quốc gia tồn tại nhiều thành phần kinh tế song vẫn phải

có chung hệ thống chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội, các chính sách này từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, điều này cũng kéo theo sự hội nhập quốc tế của các chính sách còn lại

100 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

của hệ thống an sinh xã hội. Mặc dù mỗi quốc gia có đặc điểm riêng, cách tiếp cận giải quyết các chính sách an sinh xã hội riêng, song nó vẫn phải tuân theo các quy luật chung, những vấn đề có tính phổ biến. Vì các chính sách an sinh xã hội hiện đại đều dựa

vào kết quả nghiên cứu khoa học và thực tiễn của các quốc gia, mà việc nghiên cứu khoa học của các quốc gia có thể kế thừa thành tựu khoa học của thế giới, của nhân loại. Mặt khác quá trình

hội nhập kinh tế thế giới cũng phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức

xúc có tính khu vực và toàn cầu, đặt ra sức ép buộc các quốc gia phải cùng chung nỗ lực để giải quyết, điều này dẫn đến cách tiếp cận thực hiện các chính sách an sinh xã hội cũng gần nhau hơn.

Thậm chí có một số vấn đề mang tính nguyên tắc, bắt buộc các nước thành viên phải thực hiện ví dụ như việc bảo đảm quyền và tự do của người tàn tật theo công ước quốc tế về quyền và nhân phẩm của người tàn tật được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào ngày 13/12/2006 tai Niu - odc.

7. An sinh xã hội và công tác xã hội

An sinh xã hội không chỉ dừng lại ở việc thực hiện chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro, trợ giúp các cá nhân vượt qua khó khăn, rủi ro trong cuộc sống mà còn có chức năng đảm bảo giải quyết và ngăn ngừa khó khăn, rủi ro một cách triệt để, lâu đài và phù hợp đối với các đối tượng khác nhau. An sinh xã hội cung cấp những dịch vụ xã hội cơ bản nhằm đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ của các thành viên trong xã hội, trong đó có nhóm yếu thế,

nhóm có vấn đề xã hội. _

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 101

Công tác xã hội cũng có đối tượng trợ giúp là các cá nhân, nhóm xã hội, gia đình, cộng đồng có vấn để xã hội và có hoàn cảnh đặc biệt, như vậy an sinh xã hội và công tác xã hội có sự trùng nhau về đối tượng trợ giúp, mặc dù phương pháp hoạt động, phương pháp tiếp cận giải quyết vẫn đề có sự khác nhau, nhưng cả công tác xã hội và an sinh xã hội đều có chung mục đích là bảo vệ sự an toàn cho các thành viên trong xã hội là đối tượng yếu thế, đối tượng có vấn đề xã hội, bảo vệ sự bình yên cho xã hội.

Chính vì vậy mà an sinh xã hội và công tác xã hội cũng có mối quan hệ chặt chế với nhau thông qua việc tư vấn, tham vấn và trợ giúp xã hội đối với các đối tượng yếu thế, các cá nhân, nhóm xã hội, các gia đình, cộng đồng có vấn đẻ xã hội; cung cấp dịch vụ xã hội cho các đối tượng có vấn để xã hội.

Sự phối kết hợp giữa việc thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội với thực hành công tác xã hội trên từng địa bàn, trên từng nhóm đối tượng, cá nhân, gia đình và cộng đồng sẽ mang

lại hiệu quả tích cực hơn cho xã hội. Vì rằng sự phối kết hợp

không những tăng thêm được nguồn lực về tài chính mà còn tăng thêm cả nguồn lực về con người trong việc trợ giúp các đối

tượng xã hội. |

Từ những năm cuối của thập niên 70 thế kỷ trước, mô hình

_hỗ trợ phát triển cộng đồng của Cộng hòa Pháp (mặc dù nó bắt

nguồn từ các nước Bắc Âu) đã tỏ ra hiệu quả hơn so với mô hình trợ giúp không có điều kiện ràng buộc và mô hình trợ giúp có điều kiện ràng buộc, đã trở thành đối tượng chung của công tác

102 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

xã hội và chính sách an sinh xã hội. Sự tác động của cả hai hệ thống công tác xã hội và an sinh xã hội đã làm cho các cộng đồng nghèo thức tỉnh và phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn an sinh xã hội (Trang 98 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(284 trang)