NƯỚC TRÊN THÊ GIỚI
90. Vào những năm 1996-1997 khủng hoảng tài chính diễn ra trong
khu vực, Indonesia và một số nước trong khu vực bị ảnh hưởng nặng nề, nguồn thu của ngân sách nhà nước bị suy giảm, các chế độ trợ giúp người nghèo bị cắt giảm vì chỉ lớn hơn thu của Chính phủ.
Trước năm 1996 Indonesia chỉ còn khoảng 20 triệu người nghèo, vi
nhà nước trợ cấp rất nhiều cho người nghèo, nhưng khi cắt giảm
một số chế độ trợ cấp, trợ giúp từ ngân sách nhà nước số người nghèo ở Indonesia tăng lên 110 triệu người vào năm 2000, chiếm khoảng 50% dân số. Để bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trước cơn khủng hoảng tài chính và kinh tế trong khu vực,
nhất là những người nghèo, Indonesia phải thiết lập nhiều chính
sách ngắn hạn mang tính che chắn như trợ cấp, trợ giúp tạm thời, - chính vì vậy mà đã tạo nên các lưới an sinh xã hội khác nhau. Đây được coi là một nét đặc thù không phải của riêng Indonesia mà còn của nhiều nước trong khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam.
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc có
nhiều điểm tương đồng giống Việt Nam, các chính sách an sinh xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, báo hiểm thất
nghiệp; các chính sách trợ giúp cho người già, trẻ em, người tan
tật, người dễ bị tổn thương khác. Hàn Quốc đặc biệt quan tâm
đến người già; Hiệp hội người già của Hàn Quốc có vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng các chính sách trợ giúp người giả và phát triển các nhân viên xã hội chăm sóc người già
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 181
tại cộng đồng và gia đình, và họ cũng là thành viên của Hiệp hội người già thế giới ( Help age International).
sô nước ở châu Á
Bang 3: Các bộ phận của hệ thông an sinh xã hội ở một
xã hội * Phúc lợi xã
hội: .
Tên Các bộ phận „ . 2
STT k max Chính sách cụ thê
nước cầu thành
1 Indonesia |* Bảo hiểm | - Bảo hiểm phụ nữ, bảo hiểm xã hội sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn phụ
nữ, trợ cấp tuôi già, tử tuất.
- Bảo hiểm y tế
* Trợ giúp xã |- Trợ cấp hưu trí cho công hội: | chức, sĩ quan quân đội
Dịch vụ phúc lợi xã hội cho TEƯỜI già, trẻ em, người tàn
tật, người nghèo.
2 Malaysia |* Bảo hiểm - Bảo hiểm hưu trí .
- Không có BH y tế, khám
| chữa bệnh miễn phí ở các bệnh viện nhà nước:
- Chính sách phúc lợi xã hội
cho người già, trẻ em, người
tàn tật, những người dễ bị tổn
thương; phúc lợi cộng đồng và phúc lợi tự nguyện
182 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Tên Các bộ phận „ „ 2
STT Chinh sach cu thé
nước cầu thành
Cộng hoà |* Bảo hiểm | - Bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm
3 Dân chủ | xã hội y tế, thất nghiệp;
Nhân dân * Trợ giúp xã |- Nhà nước chú trọng đặc
Trêu lhội, địch vụ | biệt tới người nghèo, người
Tiên và | xã hội dễ bị tổn thương thông qua
(Hàn các chương trình trợ giúp xã
Quôc) hội;
- Các chương trình dịch vụ xã hội như chương trình phụ cấp nuôi đưỡng và đào tạo nghề
cho người tàn tật.
ọ) Mụ hỡnh an sinh xó hội của Trung Quốc.
Trung Quôc là một quốc gia có hệ thông chính sách an sinh xã hội khá phức tạp. Trong cuốn "Cai cách chê độ bảo hiêm ở
Trung Quốc" của tác giả Tông Hiểu Ngô ?Š đã đề cập đến một số
nội dung quan trọng của chính sách an sinh xã hội, nó bao gôm:
() Chê độ bảo hiểm dưỡng lão cho công nhân viên chức, nó giông như chê độ bảo hiêm hưu trí của một sô nước trong khu vực;
(ii) Chế độ bảo hiểm thất nghiệp;
3 Tẳng Hiểu Ngô: Cải cách chế độ bảo hiểm ở Trung Quốc.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 183
(ii) Chế độ bảo hiểm y tế cho công nhân viên chức;
(iv) Chế độ bảo hộ mức sông tối thiểu hay còn gọi là cứu tế xã hội, trong đó vấn đề cốt lõi là chế độ trợ giúp đối với cư dân thành thị có thu nhập thấp nhất;
{v) Các chế độ bảo hiểm xã hội khác như chế độ bảo hiểm
thương tật của công nhân, bảo hiểm sinh đẻ, bảo hiểm nuôi
_đưỡng các đối tượng hưởng chính sách ưu đãi (nó gần giống
chính sách ưu đãi người có công ở nước ta), phúc lợi xã hội (phúc lợi xã hội ở Trung Quốc trong tài liệu này đề cập đến một phạm vi rất hẹp, chủ yếu là để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm người cô đơn, người già yếu, người tàn tật, trẻ em mô
côi và một bộ phận cư dân ở đường phố).
Một trong những nội dung của hệ thống chính sách này rất đáng để nước ta quan tâm đó là chế độ bảo hộ mức sống tối
thiểu cho cư dân thành thị. Chế độ này bắt đầu thực hiện thí điểm ở một số thành phố Trung Quốc vào năm 1993, đến năm 2000 có 36 thành phố thuộc 30 tỉnh, thành phố của Trung Quốc thực hiện. Đối tượng bảo hộ của chế độ bảo hộ mức sống tối thiểu tại thành phố là những cư dân thành phố có mức thu nhập
thấp hơn tiêu chuẩn bảo hộ đồng thời có cuộc sống khó khăn.
Các thành phố đều quy định mức sống tối thiểu cụ thể và các
mức này không giống nhau, xem biểu sau:
184 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Bảng 4: Tiêu chuẩn bảo hộ mức sống tối thiểu cho dân
cư thành phố (NDT/người/tháng) ??
Tiêu co Tiêu
STT | Thành phô chuẩn | ST Thanh pho chuan
bảo hộ bảo hộ
1 | Hạ Môn 250 19 | Tham Quyén | 245 2 | Quang Chau | 240 20 | Thượng Hải 205 3 | Bắc Kinh 200 21 | Thiên Tân 185 4 | Phú Châu 170 '22_ | Hải Khẩu 170 5 | Dai Liên 165 23 | Hàng Châu 165 6 | Ninh Ba 165 24 | Thanh Đảo 160
7 |NamNinh 150 25 | Thai Phi 150
8 | Tham Duong | 150 |26 | Nam Kinh 140 9 | CapNhiTan | 140 27. ‘| Cén Minh 140
¡ọ | Thạch Gia | 140 28 | TéNam 140
Trang
11 | Truong Sa - | 130 29 Trung Khanh 130 12 | Lap Tat 130 30 Trường Xuân 130
13 |TrịnhChâu |120 |3I | VũHán 120
5 Tổng Hiểu Ngô - Cải cách bào hiểm ở Trung Quốc, NXB đại học Mai Hoa, bản dịch trang 206
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 185
14 |ThànhĐôê |120 32 |QuýDương |120
15 |TâyNinhh - | 120 33 |ÔLãMộcTẻ | 120 6 | Thái Nguyên | 120. 34 | H6 Hoà Tiết | 110
Đặc
17 | Tay An 105 35 |NamXuong | 100 18 | Lan Châu. 100 36 |NgânXuyên |100
Thành phố Hạ Môn có tiêu chuẩn bảo hộ cao nhất là 250
nhân dân tệ/người/tháng (khoảng 500 nghìn đồng tiền Việt Nam ˆ _tính theo tỷ giá hối đoái), Thâm Quyến 245, Quảng Châu 240,
Thượng Hải 205, Bắc Kinh 200; 31 thành phố còn lại tiêu chuẩn
bảo hộ giao động từ 100 đến 185 nhân dân tệ, có 3 thành phố
tiêu chuẩn bảo hộ thấp nhất là Lan Châu, Ngân Xuyên, và Nam
Xương là 100 nhân dân tệ một người một tháng, (tương đương
200 nghìn VNĐ). Theo thống kế mới nhất vào năm 2004 có khoảng 2,4% dân số thành thị là đối tượng của hệ thống chính sách trợ cấp cho người có thu nhập thấp. Khu vực nông thôn vẫn
_ áp dụng chính sách phúc lợi xã hội. :
Trung Quốc có 42.385 đơn vị sự nghiệp phúc lợi xã hội
_ với 184. 253 nhân viên xã hội có khả năng nuôi dưỡng trên 1,03 _ triệu đối tượng xã hội, đã thu nhận nuôi dưỡng khoảng 785.199 - đối tượng “°
*® Niên giám thống kê Trung Quốc 1998, tr 792 Bắc Kinh NXB Thống kê Trung Quốc
186 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Trung Quốc cũng đã phải cải cách chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ trợ giúp xã hội nói riêng vì ba lý do:
Thứ nhất, phạm vi thực hiện hẹp, độ bao phủ nhỏ, do đó
một bộ phận dân cư, nhất là nhóm dân cư nghèo không có cơ hội tham gia và không nhận được sự trợ giúp của Nhà nước (đối tượng sống dưới mức bảo hộ khoảng 2,5% số hộ gia đình ở các thành phố nhưng số nhận được sự trợ giúp chỉ khoảng 1%).
Thứ hai, mức trợ cấp thấp, nhất là trợ cấp xã hội cho người
có thu nhập dưới mức bảo hộ, (khoảng 25% chỉ phí sinh hoạt bình quân đầu người cùng năm và khoảng một phần ba chỉ phí cho lương thực thực phẩm bình quân đầu người”)
Thứ ba, tài chính để thực hiển bảo hiểm xã hội không bền vững vì Ngân sách Nhà nước vẫn phải đóng góp rất lớn.
Kinh phí trợ giúp xã hội của cơ quan dân chính Trung Quốc không đủ cấp, việc trợ giúp mà các doanh nghiệp gánh vác quá nặng.
Trung Quốc đã thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội vào
những năm 1993 với mục tiêu: Coi cải cách bảo hiểm xã hội là
trọng điểm, đến cuối thế kỷ XX cơ bản xây dựng xong hệ thống bảo hiểm xã hội hoàn chỉnh với các đặc điểm nguồn vốn có nhiều kênh, phương thức bảo hiểm nhiều cấp độ, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, quản lý và phục vụ xã hội hoá.
* Cải cách chế độ bảo hiểm ở Trung Quốc - Tổng Hiểu Ngó; 2004
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 187
Mục tiêu cải cách trên đây mang tính trực diện rất mạnh mẽ, trong đó:
- "Nguồn vốn nhiều kênh" là nhằm giải quyết vấn để chỉ trả BHXH mà trước đây do nhà nước đơn phương gánh chịu;
- "Phương thức bảo hiểm nhiều cấp độ" là nhằm giải quyết vấn đề trước đây mọi hạng mục BHXH chỉ có một cấp độ bảo
hiểm đơn nhất của Nhà nước, đặc biệt là bảo hiểm dưỡng lão,
chữa bệnh không có sự chia tách giữa bảo hiểm cơ bản của Nhà
nước bắt buộc phải thực hiện với bảo hiểm bổ sung do các xí
nghiệp tự nguyện thực hiện và bảo hiểm có tính chất tích luỹ để dành của cá nhân;
- "Quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ" là nhằm giải quyết vấn đề công nhân viên chức tuy có cống hiến lớn nhỏ khác nhau, nhưng nói chung đều hưởng mức bảo hiểm như nhau;
- " Quản lý và phục vụ xã hội hoá là nhằm giải quyết vấn đề trước đây lo cho xã hội chủ yếu là nhà nước mà chưa thấy vai trò của xí nghiệp, cộng đồng, bản thân người lao động.
- "Hệ thống bảo hiểm xã hội hoàn chỉnh" chính là nhằm khái quát tất cả các vấn đề liên quan nêu trên, đồng thời cũng có nghĩa là rộng là các hạng mục bảo hiểm xã hội phải đầy đủ, diện bao phủ phải rộng rãi hơn.
Năm nguyên tắc cơ bản của hệ thông BHXH cải cách - Nguyên tắc thứ nhất: mức bảo hiểm xã hội phải tương ứng với trình độ phát triển kinh tế. Trước đây Trung Quốc thực
188 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
hiện "lương thấp, phúc lợi cao" Phúc lợi cao sẽ không phù hợp
với điều kiện kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 1993-2000. Một
số nước phương Tây cũng đau đầu về tình hình này vào những năm 60 -70 của thế kỷ trước.
- Nguyên tắc thứ hai: Kết hợp giữa nguyên tắc công băng xã hội và nguyên tắc hiệu suất thị trường. Lý luận truyền thống cho rằng việc chỉ trả bảo hiểm xã hội là sự phân phối lần thứ hai của Nhà nước đối với thu nhập quốc dân; phân phối lần thứ nhất phải chú trọng hiệu suất, phân phối lần thứ hai phải chú trọng công bằng xã hội.
- Nguyên tắc thứ ba: Phải tách chức năng quản lý Nhà nước với việc thu nộp kinh phí sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, tức là tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh luân chuyên quỹ bảo hiểm xã hội.
- Nguyên tắc thứ tư: Cần có sự phân biệt giữa chế độ bảo hiểm xã hội ở thành phố, thị trấn với bảo hiểm xã hội ở nông thôn vì khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị là tương đối lớn và nông thôn gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ và cũng là đơn vị bảo hiểm chủ yếu, còn thành phố sống nhờ vào làm công ăn lương.
- Nguyên tắc thứ năm: Giữa bảo hiểm xã hội và bảo hiểm
thương mại cần chia sẻ rủi ro một cách hợp lý, Bảo hiểm xã hội là công việc Chính phủ bắt buộc phải làm và phải bao phủ được tất cả những người lao động và cũng chỉ cấp được mức bảo hiểm cơ bản nhất. Bảo hiểm thương mại nói chung tuân theo nguyên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 189
tắc tự nguyện, nó có thể phát huy được tác dụng quan trọng về các mặt bảo hiểm : xã hội bổ sung của xí nghiệp và Bảo hiểm của cá nhân tích góp.
Tuy nhiên, trong cuốn sách bình luận về luật lao động và an sinh x4 hdi "Commentaries on chinese labour and social security laws and regulations", xuất bản 2004 đo Bộ Lao động và An sinh xã hội Trung Quốc phối hợp với GTZ của Cộng Hoà
Liên bang Đức tại Bắc Kinh thực hiện thì lại bàn khá nhiều đến
các vấn đề thúc đây việc làm, bảo trợ lao động nữ và vị thành
niên, bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm người mẹ khi sinh đẻ.” Điều này cho thấy mô hình của
Trung Quốc về an sinh xã hội hẹp hơn phúc lợi xã hội và phần nào có sự đan xen giữa cái gọi là bảo hiểm xã hội với các hình thức trợ giúp xã hội khác như trợ cấp bảo đảm mức sống tối thiểu ở đô thị mà Tống Hiểu Ngô đã phân tích trong cuốn sách
“Cải cách bảo hiểm ở Trung Quốc” và coi đó là một phần của bảo hiểm.
_Về tổ chức bộ máy thì quản lý nhà nước về bảo hiểm xã
hội và an sinh xã hội do Bộ Lao động của Trung Quốc quản lý,
nhưng về phúc lợi xã hội và trợ giúp đặc biệt lại do Bộ Dân
chính Trung Quốc quản lý, nó không giống như mô hình quản lý của các nước châu Á khác. Có thể do Trung Quốc là là một quốc
42 Tổng Hiệu Ngô; Cải cách chê độ bảo hiêm xã hội ở Trung Quốc. a oA ˆ zee 4 ae z wn ~ TAY 2 A
4 . . . +. .
“ "Commentaries on chinese labour and social security laws and regulations,
2004 .
190 , TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
gia đông dân khoảng I,2 tỷ người vào năm 2000 thì việc quản lý nhà nước về các lĩnh vực trên phải phân chia ra cho các Bộ khác
nhau cũng là điều dễ hiêu.
Điểm nổi bật của Trung Quốc trong chính sách an sinh xã hội là có sự phân biệt rõ ràng giữa khu vực thành thị và nông
thôn, sự khác biệt này là do mức sống khác biệt giữa nông thôn
và thành thị chi phối. Khu vực thành thị được áp dụng chính
sách bảo vệ mức sống tối thiểu cho cư dân thành thị, khu vực nông thôn vẫn áp dụng các chính sách phúc lợi xã hội thông thường như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Trung Quốc có hệ thống cơ sở nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội không lồ, trên 1 triệu đối tượng, xu hướng nuôi đưỡng tập trung và quy mô lớn như Trung Quốc tỏ ra không còn phù hợp với xu hướng chăm sóc phân tán, nhỏ lẻ dựa vào cộng đồng là chính mà Hiệp hội công tác xã hội thế giới đang khuyến cáo và được nhiều quốc gia trên thé giới hưởng ứng, làm theo, trong đó có Việt Nam đang trong giai đoạn thử nghiệm mô hình bắt đầu từ năm 2005.