AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn an sinh xã hội (Trang 194 - 200)

- Thứ nhất: Phát triển hệ thông an sinh xã hội phải gắn chặt với quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngay trong từng bước đi, từng giai đoạn cụ thể. Vì rằng, bản thân nền kinh tế thị trường hàng ngày tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, song cũng hàng ngày tích tụ để gây nên các vấn đề xã hội bức xúc, song quá trình vận động của các vấn đề xã hội ay không

phải dễ dàng nhận thấy ngay, mà cần có sự nghiên cứu tìm hiểu để thiết lập các lưới an sinh xã hội phù hợp để đối phó với

những tác động không mong muốn đó. Mặt khác, phát triển hệ thống an sinh xã hội cũng phải phù hợp với quá trình tăng

trưởng kinh tế, mức độ biến động của tiền lương tối thiểu và

194 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

mức độ cải thiện cuộc sông của các tâng lớp dân cư mà mặt băng của nó là thu nhập và mức sông bình quân của các hộ gia đình.

Các chế độ của hệ thống an sinh xã hội cũng phải đảm bảo mức sống hợp lý cho các thành viên trong xã hội thụ hướng các chính sách an sinh xã hội. Đối với đối tượng bảo trợ xã hội phải bảo đảm mức sống tối thiểu, đối với đối tượng trợ giúp đặc biệt

là người có công và đối tượng hưu trí phải đảm bảo mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Thế giới có hai mô hình là bảo hiểm tuổi già mang tính phổ cập và bảo hiểm tuổi gia hưởng tương đương với đóng. Đối với Việt Nam một nước đang phát triển thì mô hình bảo hiểm tuổi già phải vận dụng linh hoạt cả hai hình thức trên hoặc là áp dụng mô hình hưởng và đóng bảo hiểm xã hội tương đương và trợ cấp xã hội cho người cao tuổi không có lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội mang tính phổ cập hoặc áp dụng mô hình của Trung Quốc trợ cấp cho người có

thu nhập thấp.

- Thứ bai: Phát triển hệ thống an sinh xã hội phải đồng bộ

ở tất cả các hợp phần của hệ thống để tạo nên một hệ thống lưới an toàn trên các phương diện khác nhau, cho phù hợp với một nước còn được coi là nghèo, bao gồm:

() Thị trường lao động

(1) Bảo hiểm xã hội bao gồm cả bảo hiểm thất nghiệp;

(iii) Bao hiém y tế;

(iv) Trợ giúp đặc biệt;

(v) Trợ giúp xã hội;

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 195

Các hợp phần của hệ thống tạo thành mái nhà chung để

bảo đảm an toàn cho mọi thành viên xã hội khi họ bị rủi ro trong cuộc sống, bị suy giảm nghiêm trọng về kinh tế hoặc không có khả năng bảo đảm cuộc sống. Hệ thống an sinh xã hội còn là công cụ hữu hiệu điều tiết phân phối thu nhập giữa các nhóm

dân cư để bảo đảm tính công bằng xã hội, hạn chế phân hoá giàu

nghèo, phân tầng xã hội.

Từng hợp phần của hệ thống an sinh xã hội phải thiết lập được "mức chuẩn". Mức chuẩn được hiểu là mức thấp nhất và nó sẽ là hệ số 1 trong hệ thống các mức trợ cấp hay lương hưu.

Hệ thống an sinh xã hội bao gồm ba mức chuẩn đó là: (i) Mite

chuẩn trợ cấp xã hội, (1) Mức chuẩn hưu trí, và (iii) Mức chuẩn trợ cấp đặc biệt. (đối với người có công).

Mức chuẩn trợ cấp xã hội là mức trợ cấp xã hội thấp nhất dành cho đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cánh khó khăn ít nhất so với các đối tượng bảo trợ xã hội khác. Mức chuẩn trợ cấp xã

hội là cơ sở để tính toán các mức trợ cấp xã hội (hệ thống trợ

cấp xã hội) cho các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội khác nhau.

Mức chuẩn trợ cấp đặc biệt (mức chuẩn trợ cấp người có

công) là mức trợ cấp thấp nhất dành cho đối tượng có công ở mức

thấp nhất trong hệ thống mức trợ cấp đối với người có công.

Mức chuẩn lương hưu là mức lương hưu thấp nhất dành cho người có đóng góp ít nhất cho quỹ bảo hiểm xã hội trong hệ thống lương hưu.

196 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

Ỷ nghĩa của các mức chuẩn trợ cấp và mức chuẩn lương hưu: các mức chuẩn này có ý nghĩa như tiền lương tối thiểu, nó là cơ sở cho việc tính toán các mức trợ cấp hay lương hưu khác trong từng hệ thống mức trợ cấp xã hội, trợ cấp đặc biệt hay lương hưu. Mặt khác, mức chuẩn còn thể

hiện khả năng cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội

của đất nước, vì các mức chuẩn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một tỷ lệ nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với mức sống tối thiểu, mức sống trung bình cộng đồng dân cư và tiền lương tối thiểu. Thông qua các mức chuẩn nó còn hàm chứa trong đó sự bình đẳng giữa các nhóm đối tượng. Nếu các mức chuẩn có mối quan hệ tỷ lệ hợp lý thì các chế độ trợ

cấp và lương hưu sẽ thể hiện được sự bình đẳng trong phân

phối và ngược lại các mức chuẩn không có mối quan hệ tỷ lệ hợp lý thì các chế độ trợ cấp và lương hưu không còn tính bình đẳng nữa. Tuy nhiên vấn đề này còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các mức trợ cấp và giữa các mức lương hưu với các mức chuẩn tương ứng; đặc biệt là việc xác định bội số của từng hệ thống trợ cấp hay lương hưu.

Việc xây dựng các mức chuẩn trợ cấp hay lương hưu phụ thuộc vào chủ trương của Đảng và Nhà nước và tình hình phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ; đặc biệt là trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, tiền lương tối thiểu, mức sống dân cư bao gồm cả mức sống tối thiểu và mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Đây có thể được coi là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm công bằng xã hội xét theo cả hệ thống an

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 197

sinh xã hội và từng nhóm đối tượng trong từng hợp phần của hệ thống.

Các "mức chuẩn" hay nói cách khác là độ lớn của hệ số gốc tính bằng tiền làm cơ sở để tính các mức trợ cấp của thống bảo hiểm hưu trí, trợ cấp đặc biệt, trợ giúp xã hội và tiền lương

tối thiểu phải tạo thành mối quan hệ tỷ lệ thuận gắn bó hữu cơ với nhau mà ở đó các thành viên xã hội cảm thấy công bằng,

đồng thuận, chấp nhận và cùng nhau chung sống. Mối quan hệ tỷ lệ thuận gắn bó hữu cơ với nhau của các mức chuẩn tạo nên thể chế " nước nổi, thuyền nồi", có nghĩa là mức sống dân cư tăng, tiền lương tối thiểu tăng thì lương hưu, trợ cấp đặc biệt, trợ cấp xã hội cũng sẽ tăng theo một tỷ lệ tương ứng.

_- Thứ ba: Phát triển hệ thống an sinh xã hội phải gắn chặt

với quá trình cải cách hành chính nhà nước trên cả 3 phương

diện, hay nói cách khác theo các tài liệu quốc tế thường gọi là ba trụ cột của hệ thống an sinh xã hội: (¡) Thể chế chính sách đi) Thể chế tài chính (iii) Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ. a

Thể chế chính sách phải bao trùm được các đối tượng của hệ thống và đáp ứng được nhu cầu thật sự của đối tượng, đồng

thời cũng phải có tiêu chí xác định đối tượng một cách rõ ràng,

cơ chế xác định đối tượng đơn giản, thuận lợi cho việc quản lý, theo dõi và giám sát. Tuy nhóm đối tượng cụ thể mà áp dụng cơ chế hưởng thụ có điều kiện hay thụ hưởng không cần điều kiện, song nhìn chung là đối tượng thụ hưởng đều gắn với những điều kiện đóng góp cụ thể bằng tiền hay bằng công sức hoặc những

198 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

cam kết nhất định, hạn chế đến mức thấp nhất các đối tượng thụ hưởng không cần điều kiện ràng buộc. Mô hình bảo đảm xã hội của Pháp đã chỉ ra bài học kinh nghiệm này.

Thể chế tài chính phải đảm bảo tính bền vững cân đối thu - chi va linh hoạt trong những điều kiện cụ thể của quá trình phát triển, đồng thời cũng phù hợp với thu nhập, chỉ tiêu của người dân. Phương châm chung là đa nguồn, là xã hội hoá về nguồn lực, bên cạnh sự đóng góp của người tham gia, cần huy động của giới chủ, ngân sách nhà nước và huy động từ cộng đồng.

Thể chế tổ chức và đội ngũ cán bộ phải từng bước được tiêu chuẩn hoá, bảo đảm đủ điều kiện và năng lực để thực hiện

nhiệm vụ quản lý hoặc cung cấp dịch vụ một cách phù hợp và hiệu quả; nhu cầu hiện tại và trong tương lai cần có bộ xã hội có tính chuyên nghiệp hoạt động ở cấp cơ sở (phường/xã/thị trấn); bộ máy tổ chức cũng cần mang tính chuyên nghiệp hơn trong việc quản lý và cung cấp dịch vụ có chất lượng hơn.

- Thứ tư: Quá trình đổi mới hệ thống an sinh xã hội phải

lấy con người là trung tâm, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội. Phương pháp tiếp cận phải dựa vào quyền con người và công bằng xã hội. Vì rằng các chính sách an sinh xã hội đều hướng tới mục tiêu bảo vệ sự an toàn của các thành viên xã hội, hướng tới mục tiêu ôn định xã , hội, ổn định chính trị, do vậy mà nó sử dụng khá lớn các khoản chỉ ngân sách nhà nước, nhưng lại không có trực tiếp thu cho .

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 199

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn an sinh xã hội (Trang 194 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(284 trang)