Đánh giá tổng quan về hoạt động của công ty

Một phần của tài liệu Microsoft word lvtonghop ygeyfg 5 (Trang 26 - 29)

4.1 Về Vốn

Qua thực tế xem xét tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 6 Thăng Long trong những năm vừa qua ta có thể thấy rằng:

Mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách phức tạp của nền kinh tế thị trường nhưng cùng với sự chỉ đạo của cấp trên, sự cố gắng của ban lãnh đạo Công ty và tập thể cán bộ công nhân viên trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, Công ty đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Hiệu quả kinh doanh qua các năm tương đối ổn định, mặc dù chưa được cao nhưng đã có lãi sau khi đã trang trải các chi phí kinh doanh. Cơ sở vật chất, vốn kinh doanh đã có sự tăng trưởng tạo tiền đề năng lực và phát triển kinh doanh cho những năm sau. Bên cạnh những mặt tích cực còn có những hạn chế cần giải quyết khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa khả năng sử dụng vốn kinh doanh trong thời gian tới.

+ Về hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh thấp một phần do hiệu quả sử dụng vốn thấp, chưa tận dụng hết cơ hội tiềm năng của Công ty. Công ty còn nặng về tăng doanh thu, tạo việc làm nhưng chưa quan tâm đúng mức đến tỷ suất lợi nhuận, tổng chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn quá cao do đó hiệu quả kinh doanh của công ty còn thấp. Hiệu quả sử dụng vốn thấp, Công ty phải tiến hành huy động vốn vay chịu lãi suất cao. Hơn nữa do tình trạng bị chiếm dụng vốn từ một số khách hàng nên gây nhiều khó khăn cho Công ty.

* Nguyên nhân

Cơ cấu vốn của Công ty bố trí chưa hợp lý, thể hiện ở chỗ lượng vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn kinh doanh, trong khi đó lượng vốn vay ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Cụ thể, năm 2006 là hơn 91 tỉ đồng chiếm 60,7% Công ty đã phải dựa nhiều vào nguồn vốn vay để bù đắp lượng vốn thiếu hụt. Điều này làm giảm tính chủ động của Công ty, thêm nữa công ty còn phải trả một khoản lãi vay, từ đó làm cho hiệu quả kinh doanh bị ảnh hưởng.

4.2 Về lao động

Mặc dù đã có những kết quả tốt trong việc xắp xếp lại lao động trong Công ty, xây dựng được lòng trung thành của người lao động đối với Công ty nhưng trình độ đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh là chưa cao.

*Nguyên nhân

Hầu hết đội ngũ cán bộ này được đào tạo chuyên môn sâu về lĩnh vực xây dựng hơn là về quản lý kinh tế.

So với độ tuổi trung bình trong toàn Công ty thì độ tuổi trung bình của đội ngũ này là cao hơn, điều này ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu quả quản lý của công ty.

Mặc dù có thuận lợi là họ có kinh nghiệm và thâm niên công tác, song để theo kịp tốc độ phát triển của năng lực sản xuất xã hội, thì không chỉ cần các yếu tố nói trên mà còn đòi hỏi yếu tố nhạy bén và tính mạo hiểm, chấp nhận rủi ro của ban lãnh đạo

Qui chế phân phối thu nhập đối với cán bộ quản lý cơ quan, quản lý đội còn mang tính bình quân, chưa gắn liền với khối lượng và hiệu quả công việc, do vậy chưa phát huy được vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công việc.

Một số cán bộ lãnh đạo từ Công ty tới các phòng ban, đội hiệu quả trong công tác chưa cao, thậm chí yếu kém giảm sút rõ rệt: Trên bảo dưới không nghe, chỉ đạo triển khai công việc chậm trì trệ gây ách tắc sản xuất, gây chậm tiến độ, gây thất thoát lãng phí trong thi công.

Do ảnh hưởng của việc cổ phần hoá, dẫn tới một số CBCNV đủ điều kiện nghỉ chế độ dôi dư theo nghị định 41/CP làm việc cầm chừng, chờ đợi nghỉ chế độ...

4.3 Thiết bị, công nghệ sản xuất sản phẩm

Số lượng thiết bị tương đối lớn, đã có những cố gắng trong công tác đầu tư đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó còn có rất nhiều hạn chế:

Rất nhiều thiết bị cũ và hỏng hóc

Công tác bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên chậm chạp, không đáp ứng kịp thời gây chậm tiến độ công trình.

Khai thác và sử dụng thiết bị vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Số ca máy hoạt động trong năm còn thấp.

Ý thức giữ gìn chăm lo đến máy móc thiết bị của người thợ chưa cao

*Nguyên nhân

Do nền tài chính của Công ty chưa đủ mạnh do vậy vẫn phải đầu tư những máy móc thiết bị đã qua sử dụng nên quá trình thi công các dự án một số thiết bị hỏng làm cho hiệu quả thấp và phải sửa chữa nhiều.

Công tác bảo dưỡng sửa chữa còn chậm không kịp thời là do:

- Thủ tục trình duyệt các phương án bảo dưỡng sửa chữa thiết bị trình duyệt qua các phòng ban còn quá chậm

- Các phương án chưa được cấp vốn kịp thời

- Phụ tùng thay thế chính hãng quá đắt hoặc không có trên thị trường Việt Nam

Khai thác và sử dụng thiết bị chưa đạt hiệu quả cao do tiến độ chung của công trình còn chậm, máy móc thiết bị không thể điều động sang công trình khác được

Một phần của tài liệu Microsoft word lvtonghop ygeyfg 5 (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(35 trang)