Thứ 7: Giá trị về mặt du lịch“ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”
Là một sáng tạo mang tầm kiệt tác nhân loại, không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên có khả năng hấp dẫn, thu hút khách du lịch đến thưởng thức và nghiên cứu.
III. Phân tích thực trạng khai thác “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”
Trước khi “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới thì hoạt động du lịch ở Tây Nguyên chưa được chú ý để phát triển. Nhiều du khách đến với Tây Nguyên chủ yếu là để tham quan, du lịch về nguồn, sinh thái, thiên nhiên với nhiều địa điểm tham quan thú vị: Biển Hồ, hồ Lăk, làng Lăk, Đà Lạt,… cồng chiêng Tây Nguyên vẫn chưa được nhiều người biết đến và không thể nào có thể truyền bá cũng như có nguy cơ bị quên lãng. Với những giá trị không chỉ về vật chất ( chiếc cồng, chiếc chiêng,.) mà ẩn
sau đó là cả một nền văn hóa của cả cộng đồng dân tộc Tây Nguyên. Thế nhưng, nét độc đáo đó vẫn chưa được nhân loại thế giới biết đến.
Nhưng ngay khi được UNESCO công nhận thì sức lửa của núi rừng và cồng chiêng Tây Nguyên đã nhân rộng trên toàn khu vực cũng như cả thế giới làm cho hoạt động du lịch ở đây trở nên sôi động. Du khách đến với Tây Nguyên không những được tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên núi rừng mà du khách còn bị cuốn hút vào không khí của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Từ khi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đã tạo nên bước phát triển du lịch mới cho vùng đất nay và cũng góp phần rất lớn không chỉ cho tiếng cồng, tiếng chiêng và cả nền văn hóa đươc vang xa mà cả nền du lịch của Việt Nam cũng ngày càng nhiều dân tộc trên thế giới biết đến.. Và cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".. Đến với không gian văn hóa còng chiêng Tây Nguyên du khách sẽ cảm nhận được hơi thở hoàn toàn khác lạ, đặc trưng, độc đáo và khác biệt hoàn toàn với các cồng chiêng của Indonesia, của Philippinnes… và của cả Đông Nam Á.
Và theo ông Jose maceda, một giáo sư âm nhạc dân tộc Philillines đã có những phát hiện quan trọng “ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Việt Nam là cái nôi văn hóa cồng chiêng khu vực châu Á, lên quan mật thiết với văn hóa đồng thau…”. Đó là những giá trị vô hình mà hoạt động du lịch đang truyền tải đến du khách mà rất khó có một hình thức nào khác có thể thay thế được. Những giá trị hữu hình mà hoạt động du lịch đã mang đến cho cư dân miền núi rừng như tạo ra việc làm cho người dân tộc, tăng thêm nguồn lực tài chính, dẫn dắt con người đến với di sản, góp phần quảng bá, nhân rộng và nâng cao ý thức trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng để bảo tồn phát huy văn hóa. Bởi vì đây là một tài sản vô
giá khó có nơi nào cóa thể cạnh tranh được. Nhiều hoạt động lễ hội được diễn ra để góp phần phát triển di sản như liên hoan cồng chiêng Tây Nguyên, phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Trung tâm dữ liệu di sản văn hóa và tại các bảo tàn tỉnh Tây Nguyên, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, festival Tây Nguyên năm 2005, lễ Festival cồng chiêng Quốc tế 2009 với chủ đề "Âm vang cồng chiêng và sức sống Tây Nguyên"
Tuy nhiên đằng sau cái tốt, cái đáng phấn khởi cho một di sản được công nhận, được phát triển thì lại có một số thực trang đáng buồn đang diễn ra. Và nếu không có biện pháp cụ thể thì nguy cơ một di sản qui giá của cả nhân loại bi mất đi:
Thứ nhất là sự suy giảm nhanh chóng về số lượng các dàn cồng chiêng:Theo thống kê của Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong các bản làng của người Giarai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ cồng chiêng. Có gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi bản làng có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm 2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ.Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từ năm 1982 đến 1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003 lại mất tiếp 850 bộ, hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng
Thứ hai: Nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.
Thứ ba: Đáng tiếc nhất là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được.
Thứ tư: Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.
Việc phát triển du lịch mạnh mẽ và khó kiểm soát như hiên nay cũng làm loãng hay ngày càng mất dần tính chất sinh hoạt cộng đồng và một số loại cồng, chiêng bị bán sang nước ngoài và một số nhà sưu tầm đồ cổ trong và ngoài nước:
Xu thế mất dần “ tính thiêng” của cồng chiêng Tây Nguyên còn được thể hiện ở chỗ: Ngày nay, nhiều người đã tỏ ra rất tùy tiện trong việc sử dụng các bộ chiêng thiêng và tùy tiện sử dụng các bài bản. Trong các buôn làng ngày xưa, cồng chiêng thường chỉ được sử dụng trong các lễ lớn của gia đình, lòng tộc hoặc buôn làng thì nay, cũng ngay trong cái không gian buôn làng ấy, việc "mua vui" cho
"người ngoài" đã trở nên một hiện tượng không hiếm, nếu như không muốn nói là khá phổ biến.
Không gian để biểu diễn cồng chiêng đã trở nên quá dễ dãi tại những đô thị, với các lễ hội mà yếu tố hội hầu như chiếm phần lớn. Một vài năm gần đây, đi khắp vùng Tây Nguyên, đâu đâu người ta cũng bắt gặp cảnh diễn tấu chiêng cồng trong các hội nghị, hội thảo, thậm chí cả trong các cuộc họp… Thật sai lầm khi nghĩ rằng cần đưa văn hóa cồng chiêng đến với mọi người càng nhiều càng tốt bất chấp mọi không gian sinh tồn của loại hình âm nhạc này của người bản địa Tây Nguyên. Mặt khác, làm như thế đã tạo thói quen dễ dãi trong sinh hoạt cồng chiêng cho một bộ phận người dân tộc thiểu số. Một bộ phận người dân tộc thiểu số vì
chịu sự chi phối của cơ chế thị trường đã tỏ ra bất chấp mọi quy định khắt khe trong việc sử dụng cồng chiêng nên đã tách cồng chiêng ra khỏi không gian sinh tồn tự ngàn năm với nhiều mục đích. Rồi nữa, vì yếu tố thương mại, các bộ chiêng cổ của ông cha bị chính lớp con cháu làm biến dạng về mặt nhạc học để tiện cho việc diễn tấu các bài bản hiện đại. Bộ cồng chiêng đã được chỉnh sửa ấy chỉ còn là một mớ đồng nát mất hết các giá trị vốn có của nó.
Cách trình diễn cồng chiêng cũng được “cách tân” triệt để. Trước kia, một dàn cồng chiêng cần đến cả chục người cùng tham gia biểu diễn. Kỹ thuật đánh hết sức phong phú, và phải rèn luyên lâu năm mới thuần thục. Còn bây giờ, có khi, người ta gắn cồng, chiêng vào một cái khung, rồi một người đứng gõ cốc cốc. Cứ như vậy, cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ đánh mất mình, mà còn có thể đánh mất luôn danh hiệu cao quý “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”.