CHUYÊN ĐỀ 2: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
DẠNG 2: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
Là bàn về một hiện tượng đang diễn ra trong thực tế đời sống xã hội, mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người (như ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, bạo hành gia đình, bệnh vô cảm…). Đó có thể là hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê.
2. Cách làm:
Để làm được kiểu bài này HS cần phải hiểu hiện tượng đời sống được đưa ra nghị luận, có thể có ý nghĩa tích cực cũng có thể là tiêu cực, có hiện tượng vừa tích cực vừa tiêu cực…
Do vậy, cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề để gia giảm liều lượng cho hợp lí, tránh làm bài chung chung, không phân biệt được mặt tích cực hay tiêu cực.
Các nội dung chính:
a. Mở bài:
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
b. Thân bài:
+ Luận điểm1: Giải thích sơ lược hiện tượng đời sống, làm rõ những từ ngữ, hình ảnh, khái niệm có trong đề bài (nếu có).
+ Luận điểm 2: Nêu rõ thực trạng, biểu hiện và ảnh hưởng của hiện tượng đời sống (thực tế vấn đề đang diễn ra như thế nào? Có ảnh hưởng ra sao đối với đời sống? thái độ của xã hội đối với vấn đề như thế nào?). Chú ý liên hẹ thực tế địa phương để đưa ra những dẫn chứng sắc bén, thuyết phục. Từ đó, làm nổi bật tính cấp thiết phải giải quyết vấn đề.
+ Luận điểm 3: Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân do thiên nhiên, do con người…).
+ Luận điểm 4: Đề xuất giải pháp để giải quyết hiện tượng (chú ý, nguyên nhân nào thì giải pháp đó). Cần chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi phải phối hợp với những lực lượng nào?
+ Luận điểm 5: Rút ra 2 bài học: nhận thức và hành động (Nhận thức về vấn đề như thế nào? Đúng hay sai? Cần phải làm gì?).
c. Kết bài:
- Cần khái quát lại vấn đề đang nghị luận, bày tỏ thái độ của bản thân về hiên tượng đời sống.
3. Cấu trúc bài làm:
* Lưu ý: - Vấn đề đề bài yêu cầu nghị luận là gì? (? Là gì?)
- Khái niệm và biểu hiện của vấn đề được đề cập trong đề bài thế nào? (? Thế nào? Như thế nào?)
- Nguyên nhân của vấn đề (Nguyên nhân chủ quan? Khách quan?) (Vì sao?) - Vấn đề đúng hay sai - ích lợi hoặc tác hại của vấn đề?
- Ý kiến thái độ của bản thân và đề xuất những giải pháp phát huy hoặc ngăn chặn về vấn đề nghị luận
NLXH về một SV, HT đời sống có tính tiêu cực
NLXH về một SV, HT đời sống có ý nghĩa tích cực
1. Mở đoạn: giới thiệu chung về hiện tượng đời sống, quan điểm của người viết 2. Thân đoạn:
* Giải thích
- Nêu thực trạng - Nêu biểu hiện
- Nêu nguyên nhân (chủ quan, khách quan) - Đánh giá hậu quả (đối với cá nhân, cộng đồng)
- Đánh giá ý nghĩa kết quả (đối với cá nhân, cộng đồng)
- Giải pháp khắc phục - Biện pháp phát huy mặt ưu điểm - Mở rộng vấn đề, bàn luận về vấn đề trái
ngược
3. Kết đoạn: Bài học nhận thức và hành động của bản thân c. Cách nêu vấn đề
+ Trực tiếp: Nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ ràng.
=> Dễ làm, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc, thiếu hấp dẫn cho bài viết.
+ Gián tiếp: Dẫn dắt vào đề bằng cách nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận) .
=>Tạo được sự uyển chuyển, hấp dẫn người đọc, tuy nhiên dễ dẫn đến sự lan man, lạc đề cho bài viết..
d. Cách chọn và đưa dẫn chứng
- Lấy dẫn chứng càng mới, càng gần thời điểm thi càng tốt - Số lượng dẫn chứng phù hợp (2-3 dẫn chứng)
- Dẫn chứng ngoài đời thực (trong văn chương - Dẫn chứng trong nước rồi đến nước ngoài - Không lấy dẫn chứng chung chung, sáo rỗng e. Sửa lỗi
Lỗi thường gặp Hướng khắc phục
Hình thức
- Chưa đúng hình thức đoạn văn. - Lùi đầu dòng; viết hoa chữ cái đầu tiên...
- Chưa đảm bảo dung lượng. - Đúng độ dài quy định (1/2 hoặc 2/3 trang giấy thi).
- Diễn đạt lủng củng, sai ngữ pháp, sai chính tả…
- Diễn đạt mạch lạc, rõ ràng, đúng ngữ pháp, chính tả.
Thiếu liên kết hoặc liên kết chưa chặt chẽ. - Sử dụng các phương tiện liên kết (từ, câu) Nội dung
- Thiếu ý hoặc viết lan man.
- Trình tự lập luận : sắp xếp các ý lộn xộn
- Bám sát cấu trúc đoạn, các câu cùng hướng về chủ đề
- Trình tự lập luận: bám sát vào dàn ý - Dẫn chứng chưa chọn lọc hoặc không có dẫn
chứng.
- Dẫn chứng phù hợp, cập nhật, thuyết phục…
- Liên hệ chung chung, chưa cập nhật thực tế đời sống, còn mang tính khẩu hiệu.
- Liên hệ phải gắn với những hành động cụ thể, thiết thực của bản thân.
5. Áp dụng đề:
Đề bài: Trong một bài viết trên báo, có một bạn trẻ tâm sự:
"Tôi ưa nói, ưa tranh luận, nhưng khi tôi 17 tuổi nếu tôi giơ tay phát biểu trước lớp về một vấn đề không đồng ý với quan điểm của thầy cô, tôi bị dòm ngó, tẩy chay, cười mỉa... Hình như ở Việt Nam, người ta rất khó chấp nhận chuyện người nhỏ hơn mình "sửa sai" hay tranh luận thẳng thắn với người lớn".
(Đặng Anh, Sống đúng là chính mình, tuoitre.vn, ngày 9/9/2013).
Từ góc độ của một người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn ngắn khoảng 600 từ cho biết suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
Gợi ý làm bài:
I. Mở bài: Dẫn dắt - Giới thiệu hiện tượng cần bàn.
II. Thân bài:
1. Nêu bản chất của hiện tượng- giải thích hiện tượng
- Ý kiến trên nêu lên một thực tế khá phổ biến trong xã hội Việt Nam: những người trẻ tuổi có tư duy độc lập, khi vượt qua rào cản tuổi tác có chủ kiến cá nhân thường phải đối mặt với cái nhìn và đánh giá mang tính định kiến của cộng đồng xã hội.
- Từ đấy, chính bản thân người trẻ cũng dễ mang tâm lí kém tự tin, luôn có thái độ rụt rè, thụ động khi bộc lộ chủ kiến, thậm chí không bao giờ nói ra suy nghĩ của mình trước đám đông
2. Thực trạng.
- Hiện tượng được đề cập là hiện tượng khá phổ biến trong trường học của Việt Nam. Với lối giảng dạy truyền thống và nếp sống của cộng đồng, học sinh của nước ta khá thụ động trong học tập, gần như chỉ tiếp thu kiến thức một chiều và ít khi đặt ra câu hỏi hay đưa ra những suy nghĩ đi ngược lại với điều được dạy. Tuy nhiên, cũng có một số học sinh dám bộc lộ chủ kiến của mình thì lại ít được gv khuyến khích, thậm chí còn bị bác bỏ, bị phủ nhận.
- Ở cấp độ xã hội, hiện tượng này cũng xuất hiện rất nhiều. Người trẻ tuổi thường bị nhìn nhận là "trẻ người non dạ", "ngựa non háu đá", "trứng khôn hơn vịt". Vì vậy, đa phần người
trẻ, những người giàu sức sống, sự năng động, sáng tạo trong tư duy và hành động nhất lại trở thành những cỗ máy câm lặng, ít dám bộc lộ bản thân.
3. Nguyên nhân:
- Xã hội Việt Nam vốn có truyền thống "kính lão đắc thọ", người trẻ tuổi phải luôn lắng nghe và tôn trọng người lớn tuổi hơn để học tập kinh nghiệm sống.
- Do sự ích kỉ, bảo thủ của người lớn.
- Trong xã hội Á Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng, con người có khuynh hướng sống khép mình, giấu cái tôi cá nhân đi chứ không chủ động bộc phát cái tôi mạnh mẽ như người phương Tây. Vì vậy, người Việt Nam có tâm lí ngại nói lên suy nghĩ riêng trước đám đông, đặc biệt là người trẻ tuổi….
4. Hậu quả:
- Những người trẻ có tâm huyết trở nên bất mãn, thờ ơ, thiếu tự tin…
- Người trẻ không có điều kiện thể hiện tài năng và sự cống hiến cho xã hội.
- Thiếu công bằng khi bình xét, đánh giá khen thưởng … 5. Giải pháp:
- Bộc lộ chủ kiến là một hành động tích cực, cần được khuyến khích và người trẻ cũng cần có ý thức về cách thức và thái độ khi thể hiện chủ kiến của mình: thẳng thắn và khiêm tốn, bộc trực, mạnh mẽ, biết bảo vệ ý kiến riêng nhưng không được kiêu căng, thất lễ với người khác.
- Về phía những người lớn tuổi, những bậc tiền nhân và cả cộng đồng cần có cái nhìn rộng mở hơn với người trẻ, biết lắng nghe, chia sẻ và trao đổi ý kiến với họ; đồng thời đánh giá và nhìn nhận đúng mức sự đóng góp của người trẻ chứ không nên có thái độ "dòm ngó, tẩy chay, cười mỉa" làm ảnh hưởng đến tinh thần và tâm lí của thế hệ trẻ.
- Cần động viên và khuyến khích thế hệ trẻ biết sống chủ động, sống sáng tạo và bộc lộ mình hơn để góp phần thay đổi cuộc sống theo hướng tích cực.
6. Bình luận, mở rộng vấn đề:
- Không đồng tình trước thói quen kì thị của một số người lớn tuổi truớc chính kiến của những người trẻ tuổi hơn
- Nâng cao trình độ, suy nghĩ thấu đáo... => dám bộc lộ chủ kiến của mình đồng thời tôn trọng ý kiến của người trẻ như mình.
- Cần phải phân biệt giữa thái độ bộc lộ suy nghĩ của cá nhân để trao đổi, tranh luận với người khác với thái độ chống đối, tiếu tôn trọng, thậm chí xấc xược, hỗn láo với người lớn tuổi ở những người trẻ.
III. Kết bài:
- Khẳng định: Vấn đề tác giả Đặng Anh đặt ra là một vấn đề đáng suy nghĩ và có giá trị không chỉ đối với người trẻ mà đối với cả cộng đồng.
- Bài học nhận thức và hành động của bản thân.
Lưu ý: Có những đề nhìn bề ngoài thì là một phát biểu, một ý kiến, nhận định (có thể ở dạng danh ngôn, châm ngôn…) nhưng bản chất lại bàn về một hiện tượng đời sống (VD: "Trong thế gian này chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những kẻ xấu mà còn là sự im lặng đáng sợ của những người tốt"). Khi đó, cần nhận diện đúng đề, sau đó đưa về cấu trúc dạng Nghị luận về một hiện tượng đời sống.